Trong tâm lý học, khí chất (còn được
gọi là tính khí) được xem là các đặc tính của sự biểu hiện nhân cách,
phụ thuộc vào những đặc điểm bẩm sinh và các đặc điểm cơ thể con người.
Khí chất là đặc điểm chung nhất của mỗi
con người, là đặc điểm cơ bản của hệ thần kinh, tạo ra các diện mạo
nhất định của toàn bộ hoạt động ở mỗi cá thể.
Ở con người, vỏ não liên kết và điều
chỉnh hoạt động trong và bên ngoài cơ thể, điều chỉnh các mối liên hệ
của cơ thể với môi trường xung quanh. Hoạt động của vỏ não ở những người
khác nhau có những đặc điểm riêng, chúng thể hiện ở sự không giống nhau
về các mối quan hệ giữa cường độ, tính cân bằng, tính linh hoạt của các
quá trình thần kinh cơ bản. Thuộc tính đó có thể là bẩm sinh, có thể do
rèn luyện.
Ba trăm năm trước công nguyên, nhà
triết học cổ đại Hy Lạp Hipôcrát đã tìm hiểu các quá trình thần kinh của
con người thông qua việc quan sát các hành vi phong phú của họ và ông
đã phân ra bốn loại tính khí : Tính khí sôi nổi, tính khí ưu tư, tính
khí linh hoạt và tính khí điềm tĩnh.
Năm 1863, nhà sinh học và tâm lý học
Nga I.M.Xechênôp đã viết công trình "Những phản xạ của não". Trong công
trình này, Xechênốp đã đưa ra tư tưởng về tính phản xạ tâm lý và sự điều
chỉnh tâm lý của hoạt động.
Tư tưởng này của ông được nhà sinh lý
học I.P. Páplốp phát triển trong xây dựng học thuyết về hoạt động thần
kinh cấp cao. Trong học thuyết của mình, Páplốp đã đưa ra những giải
thích khoa học về bản chất của khí chất. Ông cũng phân ra 4 dạng hoạt
động của hệ thần kinh, trên cơ sở các dạng thần kinh này có bốn loại khí
chất tương ứng (sôi nổi, linh hoạt, ưu tư và điềm tĩnh).
Dựa vào 4 dạng hoạt động của hệ thần kinh chia ra 4 loại khí chất sau:
1. Người sôi nổi
Về mặt sinh lý, người sôi nổi có các
đặc điểm sau : Hệ thần kinh mạnh, hoạt động cao, ức chế mạnh, đồng thời
quá trình hưng phấn cũng mạnh. Loại người này có sức mạnh, có năng lực,
có khả năng làm việc cao và hoạt động trên phạm vi lớn.
Người có khí chất này là người rất hăng
hái, đầy nhiệt tình, dễ và nhanh bực tức. Loại người này say mê công
việc, có nghị lực, có thể dùng nhiệt tình của mình để lôi cuốn người
khác. Nhưng khi anh ta không nhận được lợi ích gì thì dễ trở nên khó
tính và cáu gắt.
2. Người linh hoạt
Loại người có khí chất này có hệ thần
kinh mạnh. Hai quá trình hưng phấn và ức chế đều cân bằng. Đây là loại
người linh hoạt năng động, có tư duy linh hoạt, lạc quan, yêu đời. Đây
là người có khả năng làm việc tốt, có hiệu quả cao khi công việc hấp dẫn
và thích thú đối với họ.
Người linh hoạt nhanh chóng hoà nhập
với mọi người, yêu đời dễ dàng chuyển từ hoạt động này sang hoạt động
khác. Người có tính khí này không thích các công việc đơn điệu và thường
hiếu danh.
3. Người điềm tĩnh
Đặc điểm của loại người này là hệ thần
kinh mạnh, quá trình hưng phấn và ức chế bằng nhau, giống như người linh
hoạt. Điểm khác của người điềm tĩnh với người linh hoạt là hai quá
trình thần kinh trên ít năng động, tức là có sức ỳ lớn. Loại người này
là người lao động trầm tĩnh, bao giờ cũng điềm đạm, kiên nhẫn và ngoan
cường.
Khi tham gia vào công việc nào đó thì
cần phải có thời gian chuẩn bị, chứ không thể bắt tay làm việc được
ngay. Họ thường là người chung thuỷ với bạn bè, rất ít thay đổi các thói
quen của mình.
Họ sống không sôi động và không phản
ứng mạnh trước những sự kiện của cuộc sống. Trong ứng xử họ điềm đạm,
thận trọng không bị xao nhãng bởi những chuyện nhỏ nhặt. Người điềm tĩnh
khó thay đổi từ loại công việc này sang loại công việc khác và được gọi
là "Những người lao động suốt đời". Không ít người có tính khí loại này
là những người thụ động.
4. Người ưu tư
Ở loại người này hệ thần kinh yếu, rất
khó quen và khó thích nghi với những biến đổi của môi trường, sức chịu
đựng yếu, dễ bị dao động. Đối với người có tính khí ưu tư thì mỗi hiện
tượng của cuộc sống đều là một tác nhân ức chế, có khi người đó không
tin vào cái gì cả, không hy vọng vào điều gì, người đó chỉ nhìn thấy
những điều nguy hiểm hoặc ít tốt lành trong công việc.
Người ưu tư thường nhút nhát, mất bình
tĩnh trong hoàn cảnh mới, trong những cuộc gặp gỡ mới với người xa lạ.
Họ là người không thích giao tiếp, sống thiên về những cảm xúc nội tâm
kéo dài. Họ cũng là người lao động cần mẫn và cực kỳ cẩn thận.
Tuy nhiên, khí chất con người không
phải là hỗn hợp của bốn chất lỏng như Hipôcrát đã quan niệm, mà là sự
hoà nhập của các quá trình thần kinh và khí chất tạo nên những nét cơ
bản của những đặc điểm riêng của cá tính và hành vi con người.
Ứng dụng :
Linh hoạt : mọi loại việc . Người linh hoạt bao giờ cũng là hạt nhân của 1 tập thể. ( lớp trưởng phải linh hoạt thì lớp ý mới nổi lên được )
Điềm tĩnh : phòng kế hoạch hay kế toán
Nóng nảy : ...
( khó nhỉ , vì thằng nóng nảy thường hay làm hỏng việc )
Ưu tư: những individual works như coder ( computer programmer )
Blog Archive
-
▼
2013
(169)
-
▼
tháng 4
(47)
- 4 kiểu khí chất con người
- 14 Bí quyết giúp tư duy nhanh nhạy hơn
- Đại hội Đảng trước bầu cử Tổng thống Mỹ
- Những yếu điểm kìm hãm thành công của phụ nữ
- 5 nấc thang của quá trình hẹn hò
- giao tiếp với các thầy cô như thế nào
- Giao tiếp với thầy cô- điều không bao giờ thừa
- you are the apple of my eye
- CodeVisionAVR 2.05.0 – Phần mềm lập trình cho vi đ...
- nhớ về 1 mùa xuân
- chiều xuân xa nhà
- test 2
- test music
- 123
- emoticon 1
- nhấp nháy 2
- nhấp nháy
- tạo chữ trên 3d text maker
- những tuyệt phẩm của anh Bo
- còn thương góc bếp chái hè
- Làm sao để ngừng đố kỵ với thành công của người khác
- Người Phu Kéo Mo Cau
- Huckleberry finn part 2
- some other quang le's beautigul songs
- trái tim rơi
- khắc phục tính thiếu quyết đoán trong công việc
- 6 thói quen quyết đoán trong công việc
- tình lẻ đêm buồn
- Huckerberry Finn của Mark Twain part 1
- how to train a creative mind
- tính tự lập
- chuyện tình buồn trăm năm
- học học
- Cây gậy và củ cà rốt
- bộ clip photosoft
- Cách lấy Social Media làm động lực viết lách
- test 2
- test 1
- 1 số clip ấn tượng từ vui sống mỗi ngày
- thủ thuật powerpoint
- thử nghiệm game
- khắc phục 1 số lỗi với chiếc USB thân yêu
- tăng tốc load video youtube
- Khắc phục lỗi máy tính không khởi động
- còn thương rau đắng mọc sau hè
- 转弯
- slideshow
-
▼
tháng 4
(47)
Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2013
14 Bí quyết giúp tư duy nhanh nhạy hơn
Khi
gặp một vấn đề cần giải quyết, bạn phải bỏ ra bao nhiêu thời gian? Tại
sao có những tìm ra cách giải quyết vấn đề một cách thông minh hơn người
khác? Theo James Thorton, tác giả cuốn Brain Yields Its Secrets thì
không có điều gì đánh mất sự thông minh của bạn như tuổi tác. Do vậy
chúng ta cần phải cải thiện suy nghĩ của chúng ta thường xuyên.
Chọn thời gian
Hầu hết những người già suy nghĩ sáng suốt hơn vào buổi sáng, những người trẻ tuổi thì nghĩ là buổi chiều. Cộng thời gian suy nghĩ tốt nhất của bạn lại để não có thể làm việc hiệu quả hơn và phát huy được trí thông minh một cách xuất sắc nhất.
Đón nhận một sự giáo dục tốt nhưng đừng áp dụng một cách triệt để. Nhà tâm lý học Dean Keith Simonton nói rằng phương thức giáo dục của nhà trường có ảnh hướng lớn đến trí sáng tạo của trẻ, nhất là ở lứa tuổi cấp 2. Tuy nhiên áp dụng nhất nhất theo bài học sẽ làm hạn chế khả năng sáng tạo.
Lắng nghe một cách có chọn lọc Trí nhớ là yếu tố số 1 để não có thể hoạt động nhanh nhạy và giúp chúng ta thông thoáng vấn đề tốt hơn. Chúng ta hãy rèn luyện để có thể dùng trí nhớ tìm kiếm trí. Bước đầu rèn luyện trí nhớ bằng cách viết những việc cần làm vào thời gian biểu, sau đó thói quen ghi nhớ sẽ dần được hình thành.
Đừng lạm dụng chất
Để có thể tập trung và giải quyết vấn đề một cách tốt nhất, thông thường bạn hay nhờ đến một ly cà fê. Điều này không có hại nhưng nhớ đừng lạm dụng quá, bởi não sẽ có thể dẫn đến tình trạng trơ.
Hãy tạo một điểm tựa cho trí nhớ của bạn
Giáo sư Denise Park của trường đại học Michigan nói: Đừng để những thông tin cần thiết ngoài cánh đồng. Hãy xây dựng trí nhớ của bạn như một giàn giáo và buộc vào đó một vài thông tin. Cố gắng liên kết những sự kiện đó lại với nhau.
Rèn luyện, rèn luyện và rèn luyện
Học tập và rèn luyện nhiều lần thì bạn sẽ có được những kỹ năng mới. Trong não bạn sẽ xuất hiện một cách tổ chức khoa học ở bên trong. Rèn luyện nhiều thực sự giúp chúng ta có những hành động già trước tuổi. Có một nguyên lý mà không phải ai cũng biết đó là não càng hoạt động càng thông minh.
Không căng thẳng
Có những người tự tạo cơ may cho mình bằng cách họ suy nghĩ vấn đề rất nhanh, họ chộp cơ hội nhanh hơn thực tế cho phép. Khi cần phải suy nghĩ họ thường có những ý nghĩ như hoặc là tất cả hoặc không có gì. Những người này họ giải quyết vấn đề một cách nhàn nhã ung dung bởi sự sáng tạo và tính khôi hài của mình.
Sử dụng trí thông minh một cách chuyên nghiệp
Kết quả bất ngờ từ cuộc điều tra ở Ba Lan cho biết: Những người thường xuyên luyện tập các test trí tuệ sẽ có một khả năng chống đỡ khá tốt với những vấn đề không may trong cuộc sống. Một điều thú vị nữa là cuộc sống vợ chồng cũng tạo ra những kích thích cho não hoạt động.
Chinh chiến để có nhiều kinh nghiệm
Trí sáng tạo của bạn thường xuyên được đun sôi lên khi bạn dùng khả năng của mình để khai thác một lĩnh vực khác. Ví dụ như Velcro đã nghĩ ra cách lấy gậy làm sạch quần áo. Chúng ta cũng thường hay hỏi tại sao nhân viên kế toán có thể tính các phép tính nhanh hơn bình thường, đó là bởi vì họ có sự luyện tập thường xuyên.
Học tập Leonardo da Vinci
Trong cuốn sách mới có tựa đề How to Think Like Leonardo da Vinci của tác giả Michael Gelb nói về bí quyết làm giàu bộ não bằng cách thiết lập kế hoạch cho công việc. Bí quyết của Leonardo da Vinci là học cách tung hứng những vấn đề phức tạp một cách đối ngược nhau, sau đó rút ra kết luận.
Chú ý cao độ
Bạn có bao giờ bỏ thời gian ra để tìm kiếm chính bản thân mình chưa? Có bao giờ bạn quên tên một người mới chỉ có một lần gặp gỡ? Vấn đề ở đây là bạn không nhớ, mà nguyên nhân chính là không tập trung. Giống như tuổi tác của chúng ta, chúng ta cần phải có ý thức nhắc nhở chúng ta phải đặt thông tin vào bộ nhớ.
Lắng nghe nhạc Mozart
Một thí nghiệm của tâm lý học đã tìm thấy hiệu quả cho trí nhớ trong âm nhạc của Mozart. Khi nghe âm nhạc bạn sẽ có thể liên kết được những sự kiện quan trọng nhiều và nhanh hơn.
Tập thể dục
Tập thể dục thường xuyên có thể cải thiện đáng kể tâm trí của bạn. Thực hiện những bài tập aerobic có thể làm cho phát triển tính năng dẫn truyền của các dây thần kinh. Điều này không nghi ngờ gì bởi não được cung cấp thêm nhiều ô xy hơn và các hợp chất được gọi là neurotrophins. Với những chất này, tế bào não sẽ được nuôi dưỡng tốt hơn. Tuy nhiên đừng tập những bài tập quá nặng nhọc đến kiệt sức.
Cố gắng những thứ mới
Chúng ta vẫn còn nhớ cuộc đời của họa sĩ Henri Matisse có được bức tranh để đời là nhờ vào những giờ phút cuối cùng trước khi ông ra đi. Ông đã thử vẽ bức tranh cuối cùng với một chiếc bút lông và một cái kéo mới, đó là những dụng cụ khiến người hoạ sĩ này sáng tạo một bức tranh độc đáo. Chúng ta vẫn thấy càng ngày người ta càng ưa chuộng những người quản lý sáng tạo với lối tư duy mới lạ và độc đáo.
Chọn thời gian
Hầu hết những người già suy nghĩ sáng suốt hơn vào buổi sáng, những người trẻ tuổi thì nghĩ là buổi chiều. Cộng thời gian suy nghĩ tốt nhất của bạn lại để não có thể làm việc hiệu quả hơn và phát huy được trí thông minh một cách xuất sắc nhất.
Đón nhận một sự giáo dục tốt nhưng đừng áp dụng một cách triệt để. Nhà tâm lý học Dean Keith Simonton nói rằng phương thức giáo dục của nhà trường có ảnh hướng lớn đến trí sáng tạo của trẻ, nhất là ở lứa tuổi cấp 2. Tuy nhiên áp dụng nhất nhất theo bài học sẽ làm hạn chế khả năng sáng tạo.
Lắng nghe một cách có chọn lọc Trí nhớ là yếu tố số 1 để não có thể hoạt động nhanh nhạy và giúp chúng ta thông thoáng vấn đề tốt hơn. Chúng ta hãy rèn luyện để có thể dùng trí nhớ tìm kiếm trí. Bước đầu rèn luyện trí nhớ bằng cách viết những việc cần làm vào thời gian biểu, sau đó thói quen ghi nhớ sẽ dần được hình thành.
Đừng lạm dụng chất
Để có thể tập trung và giải quyết vấn đề một cách tốt nhất, thông thường bạn hay nhờ đến một ly cà fê. Điều này không có hại nhưng nhớ đừng lạm dụng quá, bởi não sẽ có thể dẫn đến tình trạng trơ.
Hãy tạo một điểm tựa cho trí nhớ của bạn
Giáo sư Denise Park của trường đại học Michigan nói: Đừng để những thông tin cần thiết ngoài cánh đồng. Hãy xây dựng trí nhớ của bạn như một giàn giáo và buộc vào đó một vài thông tin. Cố gắng liên kết những sự kiện đó lại với nhau.
Rèn luyện, rèn luyện và rèn luyện
Học tập và rèn luyện nhiều lần thì bạn sẽ có được những kỹ năng mới. Trong não bạn sẽ xuất hiện một cách tổ chức khoa học ở bên trong. Rèn luyện nhiều thực sự giúp chúng ta có những hành động già trước tuổi. Có một nguyên lý mà không phải ai cũng biết đó là não càng hoạt động càng thông minh.
Không căng thẳng
Có những người tự tạo cơ may cho mình bằng cách họ suy nghĩ vấn đề rất nhanh, họ chộp cơ hội nhanh hơn thực tế cho phép. Khi cần phải suy nghĩ họ thường có những ý nghĩ như hoặc là tất cả hoặc không có gì. Những người này họ giải quyết vấn đề một cách nhàn nhã ung dung bởi sự sáng tạo và tính khôi hài của mình.
Sử dụng trí thông minh một cách chuyên nghiệp
Kết quả bất ngờ từ cuộc điều tra ở Ba Lan cho biết: Những người thường xuyên luyện tập các test trí tuệ sẽ có một khả năng chống đỡ khá tốt với những vấn đề không may trong cuộc sống. Một điều thú vị nữa là cuộc sống vợ chồng cũng tạo ra những kích thích cho não hoạt động.
Chinh chiến để có nhiều kinh nghiệm
Trí sáng tạo của bạn thường xuyên được đun sôi lên khi bạn dùng khả năng của mình để khai thác một lĩnh vực khác. Ví dụ như Velcro đã nghĩ ra cách lấy gậy làm sạch quần áo. Chúng ta cũng thường hay hỏi tại sao nhân viên kế toán có thể tính các phép tính nhanh hơn bình thường, đó là bởi vì họ có sự luyện tập thường xuyên.
Học tập Leonardo da Vinci
Trong cuốn sách mới có tựa đề How to Think Like Leonardo da Vinci của tác giả Michael Gelb nói về bí quyết làm giàu bộ não bằng cách thiết lập kế hoạch cho công việc. Bí quyết của Leonardo da Vinci là học cách tung hứng những vấn đề phức tạp một cách đối ngược nhau, sau đó rút ra kết luận.
Chú ý cao độ
Bạn có bao giờ bỏ thời gian ra để tìm kiếm chính bản thân mình chưa? Có bao giờ bạn quên tên một người mới chỉ có một lần gặp gỡ? Vấn đề ở đây là bạn không nhớ, mà nguyên nhân chính là không tập trung. Giống như tuổi tác của chúng ta, chúng ta cần phải có ý thức nhắc nhở chúng ta phải đặt thông tin vào bộ nhớ.
Lắng nghe nhạc Mozart
Một thí nghiệm của tâm lý học đã tìm thấy hiệu quả cho trí nhớ trong âm nhạc của Mozart. Khi nghe âm nhạc bạn sẽ có thể liên kết được những sự kiện quan trọng nhiều và nhanh hơn.
Tập thể dục
Tập thể dục thường xuyên có thể cải thiện đáng kể tâm trí của bạn. Thực hiện những bài tập aerobic có thể làm cho phát triển tính năng dẫn truyền của các dây thần kinh. Điều này không nghi ngờ gì bởi não được cung cấp thêm nhiều ô xy hơn và các hợp chất được gọi là neurotrophins. Với những chất này, tế bào não sẽ được nuôi dưỡng tốt hơn. Tuy nhiên đừng tập những bài tập quá nặng nhọc đến kiệt sức.
Cố gắng những thứ mới
Chúng ta vẫn còn nhớ cuộc đời của họa sĩ Henri Matisse có được bức tranh để đời là nhờ vào những giờ phút cuối cùng trước khi ông ra đi. Ông đã thử vẽ bức tranh cuối cùng với một chiếc bút lông và một cái kéo mới, đó là những dụng cụ khiến người hoạ sĩ này sáng tạo một bức tranh độc đáo. Chúng ta vẫn thấy càng ngày người ta càng ưa chuộng những người quản lý sáng tạo với lối tư duy mới lạ và độc đáo.
Những yếu điểm kìm hãm thành công của phụ nữ
Phụ nữ chiếm hơn 70% trong đời sống công sở. Khi nói đến văn hóa công
sở, người ta bàn nhiều đến văn hóa ứng xử của nữ giới. Điểm mạnh và điểm
yếu của phụ nữ trong giao tiếp chính là những nhân tố quan trọng ảnh
hưởng đến sự thành công của họ nơi “chính trường” công sở.
Phụ nữ thông minh biết tận dụng thế mạnh để thành công
Một trong những thế mạnh để nữ giới “vượt mặt” phái mạnh là vẻ đẹp hình thể và một tâm lý nhạy cảm.
Người ta vẫn thường nói “Anh hùng không qua được ải mỹ nhân” hay “mỹ nhân kế” để chỉ những người phụ nữ đã biết tận dụng vẻ đẹp hình thể để đạt được điều mình mong muốn. Tuy nhiên, sự tận dụng lợi thế về hình thể của nữ giới trong công sở không được khuyến khích theo cách người ta vẫn gọi là “mỹ nhân kế” này.
Ngày nay, người ta chỉ thật sự tôn trọng những phụ nữ sở hữu một ngoại hình bắt mắt nhưng phải có một khả năng vượt trội. Những phụ nữ thông minh sẽ chỉ tận dụng thế mạnh về ngoại hình để “thêm điểm” cho thành công bên cạnh nhân tố chính là năng lực chuyên môn.
Ngoài ra, các nhà tâm lý học đã nghiên cứu và rút ra nhận xét, rằng phụ nữ có tâm lý nhạy cảm, ứng xử linh hoạt hơn nam giới. Tính tình mềm mỏng, phản ứng tích cực hơn trước hoàn cảnh bi đát, nhận biết nhanh trước tình thế và luôn có tính ôn hòa, dễ đồng cảm, thân thiện… giúp nữ giới luôn tạo ra cho mình mối quan hệ xã hội tốt, có ý thức làm đẹp cho cuộc sống. Các cuộc đàm phán vì thế nếu có sự tham gia của nữ giới bao giờ cũng đỡ căng thẳng và dễ thành công hơn khi chỉ có mình phái mạnh. Và người ta nói, một công sở không nên thiếu bóng dáng của nữ giới bởi họ được ví như dòng nước mát trong cơn nóng bức, là hơi thở ấm áp khi mùa đông về…
Tuy nhiên, có một thực tế là nữ giới chiếm số đông nơi công sở nhưng các vị trí quan trọng lại chỉ thường dành cho nam giới. Người ta vẫn đánh giá nam giới cao hơn nữ giới khi đề bạt các vị trí lãnh đạo, bởi họ thấy rằng ở phụ nữ còn có những yếu điểm không thích hợp cho các vị trí cấp cao.
Yếu điểm ảnh hưởng đến sự thăng tiến của phụ nữ
Những yếu điểm phổ biến của nữ giới thường là cả tin, thiếu tự tin và không kiềm chế được cảm xúc. Những yếu điểm này khiến họ nhiều khi phải chịu thiệt thòi trước cánh đàn ông, dù rằng công sức của họ bỏ ra nhiều hơn nam giới.
Quá tin người cũng xuất phát từ tâm lý nhạy cảm, yếu mềm của phụ nữ. Phụ nữ thường không thể giải quyết sự việc “lạnh lùng” như phái mạnh. Họ thích những kết cục có hậu nên khi mọi người giải thích sự việc, nghe “xuôi tai” là họ chấp nhận ngay. Sự cả tin sẽ khiến phụ nữ khó giữ vững lập trường, đức tính quan trọng nhất của một người lãnh đạo.
Yếu điểm lớn thứ hai của phụ nữ là sự thiếu tự tin. Phụ nữ thường có thói quen đánh giá thấp các thành quả của mình, liên tục xin lỗi dù sai hay đúng và thường giữ im lặng trong các buổi họp hay thuyết trình… Điều này khiến họ tự đánh mất đi các cơ hội thăng tiến và nhiều quyền lợi nghề nghiệp.
Yếu điểm thứ ba của phụ nữ là biểu lộ cảm xúc một cách quá lộ liễu. Đó là lí do vì sao người ta không để phụ nữ nắm giữ các vị trí quan trọng. Phụ nữ thường để cảm xúc chi phối trong công việc, rất khó kiềm chế các cơn nóng giận, hay than thở và hay khóc lóc… Đây được xem là những hành động của sự thiếu chuyên nghiệp và cho thấy sự yếu đuối của phái nữ.
theo Tạ Duy- tầm nhìn net
Phụ nữ thông minh biết tận dụng thế mạnh để thành công
Một trong những thế mạnh để nữ giới “vượt mặt” phái mạnh là vẻ đẹp hình thể và một tâm lý nhạy cảm.
Người ta vẫn thường nói “Anh hùng không qua được ải mỹ nhân” hay “mỹ nhân kế” để chỉ những người phụ nữ đã biết tận dụng vẻ đẹp hình thể để đạt được điều mình mong muốn. Tuy nhiên, sự tận dụng lợi thế về hình thể của nữ giới trong công sở không được khuyến khích theo cách người ta vẫn gọi là “mỹ nhân kế” này.
Ngày nay, người ta chỉ thật sự tôn trọng những phụ nữ sở hữu một ngoại hình bắt mắt nhưng phải có một khả năng vượt trội. Những phụ nữ thông minh sẽ chỉ tận dụng thế mạnh về ngoại hình để “thêm điểm” cho thành công bên cạnh nhân tố chính là năng lực chuyên môn.
Ngoài ra, các nhà tâm lý học đã nghiên cứu và rút ra nhận xét, rằng phụ nữ có tâm lý nhạy cảm, ứng xử linh hoạt hơn nam giới. Tính tình mềm mỏng, phản ứng tích cực hơn trước hoàn cảnh bi đát, nhận biết nhanh trước tình thế và luôn có tính ôn hòa, dễ đồng cảm, thân thiện… giúp nữ giới luôn tạo ra cho mình mối quan hệ xã hội tốt, có ý thức làm đẹp cho cuộc sống. Các cuộc đàm phán vì thế nếu có sự tham gia của nữ giới bao giờ cũng đỡ căng thẳng và dễ thành công hơn khi chỉ có mình phái mạnh. Và người ta nói, một công sở không nên thiếu bóng dáng của nữ giới bởi họ được ví như dòng nước mát trong cơn nóng bức, là hơi thở ấm áp khi mùa đông về…
Tuy nhiên, có một thực tế là nữ giới chiếm số đông nơi công sở nhưng các vị trí quan trọng lại chỉ thường dành cho nam giới. Người ta vẫn đánh giá nam giới cao hơn nữ giới khi đề bạt các vị trí lãnh đạo, bởi họ thấy rằng ở phụ nữ còn có những yếu điểm không thích hợp cho các vị trí cấp cao.
Yếu điểm ảnh hưởng đến sự thăng tiến của phụ nữ
Những yếu điểm phổ biến của nữ giới thường là cả tin, thiếu tự tin và không kiềm chế được cảm xúc. Những yếu điểm này khiến họ nhiều khi phải chịu thiệt thòi trước cánh đàn ông, dù rằng công sức của họ bỏ ra nhiều hơn nam giới.
Quá tin người cũng xuất phát từ tâm lý nhạy cảm, yếu mềm của phụ nữ. Phụ nữ thường không thể giải quyết sự việc “lạnh lùng” như phái mạnh. Họ thích những kết cục có hậu nên khi mọi người giải thích sự việc, nghe “xuôi tai” là họ chấp nhận ngay. Sự cả tin sẽ khiến phụ nữ khó giữ vững lập trường, đức tính quan trọng nhất của một người lãnh đạo.
Yếu điểm lớn thứ hai của phụ nữ là sự thiếu tự tin. Phụ nữ thường có thói quen đánh giá thấp các thành quả của mình, liên tục xin lỗi dù sai hay đúng và thường giữ im lặng trong các buổi họp hay thuyết trình… Điều này khiến họ tự đánh mất đi các cơ hội thăng tiến và nhiều quyền lợi nghề nghiệp.
Yếu điểm thứ ba của phụ nữ là biểu lộ cảm xúc một cách quá lộ liễu. Đó là lí do vì sao người ta không để phụ nữ nắm giữ các vị trí quan trọng. Phụ nữ thường để cảm xúc chi phối trong công việc, rất khó kiềm chế các cơn nóng giận, hay than thở và hay khóc lóc… Đây được xem là những hành động của sự thiếu chuyên nghiệp và cho thấy sự yếu đuối của phái nữ.
theo Tạ Duy- tầm nhìn net
5 nấc thang của quá trình hẹn hò
Các nhà tâm lý đã chỉ ra 5 nấc thang của quá trình hẹn hò gồm: Thu hút, thử thách, trở thành duy nhất, gắn kết và kết hôn.
Khá thường xuyên là con người ta thường bỏ qua giai đoạn thứ hai, một giai đoạn thử thách quan trọng cho quan hệ đôi lứa. Thay vì nguy cơ mất đi đối tác vì bản thân không chắc chắn, người ta thường tìm cách đơn giản hơn là chuyển ngay sang giai đoạn tiếp theo. Thay vì cảm nhận liệu người đàn ông có phù hợp với mình không, người phụ nữ lại bỏ qua và mắc sai lầm khi cố gắng chứng tỏ với anh ấy rằng cô là người thích hợp với anh.
Trong giai đoạn đầu tiên là thu hút nhau, nếu phụ nữ phản ứng như là cô ấy đã bước sang giai đoạn thứ tư là gắn kết, thì điều đó là không phù hợp và sai lầm giống như việc bạn hỏi người đàn ông ngay trong buổi hẹn đầu tiên là: “Anh muốn mời bao nhiêu người tới dự đám cưới” hay “anh muốn sinh bao nhiêu con?”.
Trong hầu hết các trường hợp, khi phụ nữ phản ứng như thể cô ấy đã ở giai đoạn cao hơn, như thể quan hệ của hai người đã sâu sắc dù thực tế chưa đến mức đó thì khó mà khiến người đàn ông tiến tới gắn kết hôn nhân. Khi đó, đàn ông có xu hướng ở lỳ giai đoạn mà anh đã chinh phục được cô, anh không còn động lực để tiến lên nữa.
Nói chung, khi phụ nữ vượt qua các giai đoạn của hẹn hò nhanh hơn thì người đàn ông có xu hướng dừng lại. Theo các chuyên gia tâm lý, đó là sự khác biệt cơ bản giữa nam giới và nữ giới.
Với phụ nữ, nếu một thứ đã mang lại hiệu quả, họ sẽ nghĩ làm thế nào để có thể khiến nó tốt hơn. Một mối quan hệ với người đàn ông mà mang lại cho cô ấy thứ cô mong muốn thì cô có động lực để khiến nó tốt hơn; trong khi đó ở vị trí người đàn ông thì anh ta sẽ nghĩ rằng giờ anh ấy có thể nghỉ ngơi vì chắc chắn anh ấy đã làm quá đủ.
Ví như anh mới đang ở giai đoạn thứ tư là gắn kết nhưng cô lại cư xử với anh như thể hai người đã là vợ chồng thì có thể khiến anh nghĩ tại sao lại phải làm điều gì đó để thay đổi kế hoạch cơ chứ, mọi thứ đang tốt đẹp cơ mà. Kết quả của việc nàng quá “nhanh chân” này sẽ khiến anh không cảm nhận hết được mức độ khao khát ở sâu thẳm tâm hồn để có thể mong muốn chia sẻ phần đời còn lại của mình với cô ấy. Và thế là anh ta có thể sẽ không bao giờ cảm thấy mình cần phải cưới cô.
Hoặc khi anh ta mới đang ở giai đoạn thứ hai của quá trình hẹn hò là thử thách, mà cô lại cư xử như thể hai người đã gắn bó sâu sắc lắm thì anh ta dễ phản ứng ngược lại với mong muốn của cô ấy. Khi một phụ nữ yêu tuyệt vọng một người đàn ông nào đó hoặc phụ thuộc hoàn toàn vào anh ấy thì hiển nhiên anh ta sẽ nghĩ rằng: Cô ấy có vẻ chắc chắn mình là người đàn ông dành cho cô ấy, mình không biết nữa. Thậm chí khi đó anh ta sẽ nghĩ mối quan hệ đó không phù hợp và anh ta chưa sẵn sàng cho mối quan hệ lâu bền như thế.
Ngược lại, trường hợp phụ nữ ban đầu tỏ vẻ quá cởi mở trước những động thái của người đàn ông rồi sau đó dường như có hơi nghi ngờ về việc chuyển sang giai đoạn thứ ba là trở thành người duy nhất của anh ấy - thì cô sẽ trở nên hấp dẫn hơn trong mắt anh. Khi người đàn ông không phải lo lắng về sự khó khăn để thoát ra khỏi mối quan hệ thì anh ấy sẽ hứng thú hơn với việc gắn kết với người phụ nữ đó.
Theo lời khuyên của các nhà tâm lý, cách ứng xử phù hợp khi bạn cảm thấy yêu người đó ngay trong giai đoạn thứ nhất, trong thời kỳ đầu gặp gỡ, là hãy tiếp tục cư xử khách sáo đúng như thời điểm ban đầu ấy. Tuyệt đối không nên ứng xử và đáp lại đối tác như thể hai người đã quá thân thiết với nhau.
Nếu đàn ông là người chủ động bỏ qua giai đoạn trong quá trình hẹn hò, sẽ khiến hai người tiến nhanh hơn qua 5 giai đoạn, đưa quan hệ của hai người nhanh chóng trở nên sâu sắc.
Nhưng điều đó cũng có thể khiến cô ấy phát chán. Ví như tình yêu của cô ấy mới chỉ đang ở giai đoạn gắn kết, mà anh lại cư xử như thể hai người đã là vợ chồng thì cô ấy dễ nghĩ: Anh ấy cư xử như thể tôi và anh ấy đã kết hôn mà thậm chí tôi còn chưa đồng ý. Chính quá trình tốc hành trong hẹn hò của anh có thể khiến cô chán và không muốn dâng hiến bản thân cho mối quan hệ đó.
Trước khi phụ nữ đồng ý lấy anh làm chồng, cô ấy cần cảm thấy những tình cảm của mình sẽ được tôn trọng. Chưa kể, khi đàn ông quá mạnh bạo có thể khiến phụ nữ không thể tin tưởng anh ấy để bước sang giai đoạn trở thành cô gái duy nhất của anh ta. Và sự thực đáng buồn là anh ấy càng thích cô thì cô ấy càng muốn chạy trốn và càng không tin tưởng anh.
Phụ nữ bị hấp dẫn bởi những người đàn ông “không thực sự quan tâm” là vì khi đó đàn ông đang đứng ở giai đoạn thứ nhất, hoặc thứ hai – là những giai đoạn thích hợp để bắt đầu mối quan hệ. Tương tự, khi một người đàn ông theo đuổi một cô gái nhưng vẫn chưa chắc chắn liệu có muốn trở thành duy nhất hay trở thành chồng của cô ấy, thì điều đó khiến anh ấy trở nên hấp dẫn hơn trong mắt cô.
Bởi khi đó anh đã tạo ra cơ hội để phụ nữ tìm hiểu và tìm thấy sự an toàn. Khi đàn ông tiến bước quá mạnh mẽ, nó có thể khiến cô cảm thấy mình không có quyền được cảm thấy không chắc chắn. Kết quả là cô sẽ không bao giờ có cơ hội tìm hiểu được sự chắc chắn trong mình rằng cô đã sẵn sàng để tiến tới giai đoạn trở thành người phụ nữ duy nhất của anh.
Thực tế, khả năng vượt “đèn đỏ” trong 5 giai đoạn của quá trình tán tỉnh rất dễ xảy ra khi một trong hai người hoặc cả hai người quá háo hức muốn vượt lên trước. Họ thậm chí có thể kết hôn nhưng vì chưa được chuẩn bị nên họ sẽ rất khó khăn để vượt qua những thử thách xuất hiện trong cuộc sống.
Khá thường xuyên là con người ta thường bỏ qua giai đoạn thứ hai, một giai đoạn thử thách quan trọng cho quan hệ đôi lứa. Thay vì nguy cơ mất đi đối tác vì bản thân không chắc chắn, người ta thường tìm cách đơn giản hơn là chuyển ngay sang giai đoạn tiếp theo. Thay vì cảm nhận liệu người đàn ông có phù hợp với mình không, người phụ nữ lại bỏ qua và mắc sai lầm khi cố gắng chứng tỏ với anh ấy rằng cô là người thích hợp với anh.
Trong giai đoạn đầu tiên là thu hút nhau, nếu phụ nữ phản ứng như là cô ấy đã bước sang giai đoạn thứ tư là gắn kết, thì điều đó là không phù hợp và sai lầm giống như việc bạn hỏi người đàn ông ngay trong buổi hẹn đầu tiên là: “Anh muốn mời bao nhiêu người tới dự đám cưới” hay “anh muốn sinh bao nhiêu con?”.
Trong hầu hết các trường hợp, khi phụ nữ phản ứng như thể cô ấy đã ở giai đoạn cao hơn, như thể quan hệ của hai người đã sâu sắc dù thực tế chưa đến mức đó thì khó mà khiến người đàn ông tiến tới gắn kết hôn nhân. Khi đó, đàn ông có xu hướng ở lỳ giai đoạn mà anh đã chinh phục được cô, anh không còn động lực để tiến lên nữa.
Nói chung, khi phụ nữ vượt qua các giai đoạn của hẹn hò nhanh hơn thì người đàn ông có xu hướng dừng lại. Theo các chuyên gia tâm lý, đó là sự khác biệt cơ bản giữa nam giới và nữ giới.
Với phụ nữ, nếu một thứ đã mang lại hiệu quả, họ sẽ nghĩ làm thế nào để có thể khiến nó tốt hơn. Một mối quan hệ với người đàn ông mà mang lại cho cô ấy thứ cô mong muốn thì cô có động lực để khiến nó tốt hơn; trong khi đó ở vị trí người đàn ông thì anh ta sẽ nghĩ rằng giờ anh ấy có thể nghỉ ngơi vì chắc chắn anh ấy đã làm quá đủ.
Ví như anh mới đang ở giai đoạn thứ tư là gắn kết nhưng cô lại cư xử với anh như thể hai người đã là vợ chồng thì có thể khiến anh nghĩ tại sao lại phải làm điều gì đó để thay đổi kế hoạch cơ chứ, mọi thứ đang tốt đẹp cơ mà. Kết quả của việc nàng quá “nhanh chân” này sẽ khiến anh không cảm nhận hết được mức độ khao khát ở sâu thẳm tâm hồn để có thể mong muốn chia sẻ phần đời còn lại của mình với cô ấy. Và thế là anh ta có thể sẽ không bao giờ cảm thấy mình cần phải cưới cô.
Hoặc khi anh ta mới đang ở giai đoạn thứ hai của quá trình hẹn hò là thử thách, mà cô lại cư xử như thể hai người đã gắn bó sâu sắc lắm thì anh ta dễ phản ứng ngược lại với mong muốn của cô ấy. Khi một phụ nữ yêu tuyệt vọng một người đàn ông nào đó hoặc phụ thuộc hoàn toàn vào anh ấy thì hiển nhiên anh ta sẽ nghĩ rằng: Cô ấy có vẻ chắc chắn mình là người đàn ông dành cho cô ấy, mình không biết nữa. Thậm chí khi đó anh ta sẽ nghĩ mối quan hệ đó không phù hợp và anh ta chưa sẵn sàng cho mối quan hệ lâu bền như thế.
Ngược lại, trường hợp phụ nữ ban đầu tỏ vẻ quá cởi mở trước những động thái của người đàn ông rồi sau đó dường như có hơi nghi ngờ về việc chuyển sang giai đoạn thứ ba là trở thành người duy nhất của anh ấy - thì cô sẽ trở nên hấp dẫn hơn trong mắt anh. Khi người đàn ông không phải lo lắng về sự khó khăn để thoát ra khỏi mối quan hệ thì anh ấy sẽ hứng thú hơn với việc gắn kết với người phụ nữ đó.
Theo lời khuyên của các nhà tâm lý, cách ứng xử phù hợp khi bạn cảm thấy yêu người đó ngay trong giai đoạn thứ nhất, trong thời kỳ đầu gặp gỡ, là hãy tiếp tục cư xử khách sáo đúng như thời điểm ban đầu ấy. Tuyệt đối không nên ứng xử và đáp lại đối tác như thể hai người đã quá thân thiết với nhau.
Nếu đàn ông là người chủ động bỏ qua giai đoạn trong quá trình hẹn hò, sẽ khiến hai người tiến nhanh hơn qua 5 giai đoạn, đưa quan hệ của hai người nhanh chóng trở nên sâu sắc.
Nhưng điều đó cũng có thể khiến cô ấy phát chán. Ví như tình yêu của cô ấy mới chỉ đang ở giai đoạn gắn kết, mà anh lại cư xử như thể hai người đã là vợ chồng thì cô ấy dễ nghĩ: Anh ấy cư xử như thể tôi và anh ấy đã kết hôn mà thậm chí tôi còn chưa đồng ý. Chính quá trình tốc hành trong hẹn hò của anh có thể khiến cô chán và không muốn dâng hiến bản thân cho mối quan hệ đó.
Trước khi phụ nữ đồng ý lấy anh làm chồng, cô ấy cần cảm thấy những tình cảm của mình sẽ được tôn trọng. Chưa kể, khi đàn ông quá mạnh bạo có thể khiến phụ nữ không thể tin tưởng anh ấy để bước sang giai đoạn trở thành cô gái duy nhất của anh ta. Và sự thực đáng buồn là anh ấy càng thích cô thì cô ấy càng muốn chạy trốn và càng không tin tưởng anh.
Phụ nữ bị hấp dẫn bởi những người đàn ông “không thực sự quan tâm” là vì khi đó đàn ông đang đứng ở giai đoạn thứ nhất, hoặc thứ hai – là những giai đoạn thích hợp để bắt đầu mối quan hệ. Tương tự, khi một người đàn ông theo đuổi một cô gái nhưng vẫn chưa chắc chắn liệu có muốn trở thành duy nhất hay trở thành chồng của cô ấy, thì điều đó khiến anh ấy trở nên hấp dẫn hơn trong mắt cô.
Bởi khi đó anh đã tạo ra cơ hội để phụ nữ tìm hiểu và tìm thấy sự an toàn. Khi đàn ông tiến bước quá mạnh mẽ, nó có thể khiến cô cảm thấy mình không có quyền được cảm thấy không chắc chắn. Kết quả là cô sẽ không bao giờ có cơ hội tìm hiểu được sự chắc chắn trong mình rằng cô đã sẵn sàng để tiến tới giai đoạn trở thành người phụ nữ duy nhất của anh.
Thực tế, khả năng vượt “đèn đỏ” trong 5 giai đoạn của quá trình tán tỉnh rất dễ xảy ra khi một trong hai người hoặc cả hai người quá háo hức muốn vượt lên trước. Họ thậm chí có thể kết hôn nhưng vì chưa được chuẩn bị nên họ sẽ rất khó khăn để vượt qua những thử thách xuất hiện trong cuộc sống.
giao tiếp với các thầy cô như thế nào
Thầy
giáo là người dẫn đường và là người khai sáng cho học sinh. Suốt thời
gian học tập của bạn, thầy giáo là người luôn luôn giúp đỡ và dạy dỗ.
Nếu bạn chủ động giao tiếp với thầy giáo thì việc học tập và trưởng
thành của bạn sẽ rất có lợi.
1. Tôn kính thầy giáo
Thầy
giáo chịu làm cái thang cho học trò leo lên, tinh thần cống hiến này là
vĩ đại. Sự trưởng thành và tiến bộ của học sinh đều có công sức của các
thầy giáo. Chúng ta cần phải biết tôn kính các thầy cô, từ các thầy cô
từ thời tiểu học đến các thầy cô ở đại học. Đó là phẩm chất cơ bản của
mỗi học sinh.
Tôn
kính thầy giáo biểu hiện rõ trong cuộc sống thường ngày: Gặp thầy phải
chủ động chào hỏi, thăm hỏi sức khỏe, phải tỏ rõ sự lễ phép với thầy,
tôn trọng sức lao động của thầy, thành thực khiêm tốn lắng nghe lời thầy
dạy, lấy thành tích và sự phát triển toàn diện của bản thân báo đáp lại
công lao của thầy.
2. Có thái độ chủ động , thành thật, nhiệt tình khi tiếp xúc với thầy
Một
thầy giáo phải dạy nhiều học sinh, vì vậy, có khi không để mắt được hết
tất cả học sinh, không thể đáp ứng được hết nhu cầu của mỗi học sinh
muốn được tiếp xúc gần gũi với thầy. Mỗi học sinh đều nên mạnh dạn “
tiến công” thầy giáo. Đem nỗi niềm tâm sự của mình bộc lộ hết với thầy,
có khó khăn xin thầy giúp đỡ. Trong học tập gặp đề khó, xin gặp thầy để
hỏi, chủ động xin thầy giúp đỡ. Như vậy, bạn có thể kết bạn cùng thầy
giáo, bạn sẽ tiến bộ nhanh và chóng trưởng thành.
3. Cần có thái độ đúng đắn khi tiếp nhận lời phê bình thiện ý của thầy giáo
Thời
nay có một số học sinh thường có phản ứng khi bị thầy giáo phê bình,
thậm chí có cả hành vi chống đối. Họ cho rằng thầy giáo quá nghiêm khắc,
có thái độ khắt khe với học trò, cảm thấy không được tự do khi ở trường
học. Thực ra không có thầy giáo nào lại không yêu học trò của mình, lại
không mong muốn học trò mình thành tài. Trên cơ sở tôn trọng học sinh,
yêu quí học sinh, thầy giáo phải dùng phương pháp nghiêm khắc để bồi
dưỡng cho học sinh có được phẩm chất tốt đẹp, có thói quen văn mình, đó
là nhu cầu để hun đúc nhân tài. Không nghiêm thì làm sao dạy dỗ học sinh
được. Không nghiêm thì làm thế nào để học sinh thành tài.
Nhiều
người có được những thành tựu to lớn là đều do họ được huấn luyện rất
nghiêm khắc, có nhu cầu rất cao, có nền móng vững chắc nên về sau đã
thành tài. “thầy nghiêm có học trò giỏi” là đạo lý. Từ góc độ tâm lý học
mà nói, sức kiềm chế của học sinh trung học chưa mạnh, nếu không có
thầy nghiêm khắc yêu cầu, nghiêm khắc đôn đốc, học sinh có thể do ý thực
tự giác kém mà ảnh hưởng tới sự phát triển của bản thân. Là học sinh,
chúng ta cần thấu hiểu nỗi khổ của thầy, tiếp thu đúng mức lời của thầy
phê bình, thành khẩn tiếp nhận sự chỉ dấn và yêu cầu nghiêm khắc của
thầy, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa thầy và trò.
4. Nhận thức và có thái độ đúng đắn khi thầy giáo nhận xét sai về mình
Trong
cuộc sống và công tác, có khi ta bị nhận xét sai hoặc hiểu lầm, lúc
này bản thân thường cảm thấy ấm ức, bực dọc. Học sinh sợ thầy giáo nhận
xét sai về mình sẽ ảnh hưởng tới sự tiến bộ của mình, tâm trạng đó cũng
dễ hiểu. Nhưng một khi gặp phải tình huống này, nên có thái độ như thế
nào?
Bất
cứ ai cũng đều có thể phạm phải sai lầm, khuyết điểm thế này hay thế
nọ. Thầy giáo cũng có lúc phạm phải sai lầm và học sinh cần có thái độ
đúng đắn, không vì thầy giáo chê trách mình mà có thái độ oán hận. Cho
rằng thầy giáo đánh giá sai mình mà dùng thái độ tiêu cực để đối kháng
lại là sai lầm, vì có lúc do thầy giáo hiểu tình hình không toàn diện mà
phê bình mình không sát thực tế, nhưng việc làm này cũng xuất phát từ
lòng mong muốn học trò tiến bộ. Dù là phê bình rất gay gắt, bản thân
thầy giáo cũng không mong muốn học sinh chống lại mình. Một khi thầy
giáo chê trách sai mình, không được tỏ thái độ chống đối lại, đầu óc cần
tỉnh táo, cố gắng kiềm chế bản thân, không bị kích động. Căn cứ vào
điều kiện và hoàn cảnh lúc bấy giờ, nếu giải thích được thì giải thích
rõ, nếu không giải thích thì tạm thời bỏ qua, rồi sau đó tìm thời cơ
thích hợp để giải thích, cũng có thể nhờ bạn hoặc cán bộ lớp dể giải
thích. Dùng phương pháp hoà hoãn để giải toả sự hiểu lầm, rút ngắn
khoảng cách, xoay chuyển ấn tượng của thấy giáo đối với mình, để quan hệ
thầy trò trở lại hoà hợp.
Tóm
lại, khi giao tiếp cùng thầy giáo, bạn cần có thái độ chủ động, thành
khẩn, chịu khó học tập, cố gắng đạt thành tích tốt, công việc mà thầy
giáo giao cần hoàn thành đúng thời hạn, như vậy thầy giáo sẽ thích bạn.
Ngoài ra, cần tìm cách tiếp xúc vời nhiều thầy giáo. Tăng cường sự giao
lưu giữa thầy trò, để thầy giáo hiểu mình. Thầy giáo chẳng có lý do gì
mà không thích bạn. Bạn quan tâm đến thầy giáo, thầy giáo sẽ quan tâm
tới bạn. Dĩ nhiên, xây dựng được mối quan hệ thầy trò tốt phải cả hai
bên thầy trò cùng cố gắng. Chúng ta đứng ở góc độ học trò, cần mở rộng
tấm lòng, với thái độ tôn trọng, thành khẩn, yêu mến thầy mà bắc cây cầu
hữu nghị giữa thầy và trò.
Giao tiếp với thầy cô- điều không bao giờ thừa
Nghiêm
khắc chưa chắc đã là việc xấu. Có một câu tục ngữ nói rằng: Có thầy
giáo nghiêm khắc sẽ có học trò giỏi. Nghiêm khắc là yêu cầu nghiêm túc,
thậm chí rất nghiêm túc. Yêu cầu làm, bạn nhất định phải làm bằng được.
Yêu cầu hoàn thành, bạn nhất định phải hoàn thành cho xong, không được
qua loa, sơ sài. Để đạt được mục đích, có khi còn phải kèm theo hình
phạt. Những học sinh được các thầy cô, giáo nghiêm khắc dậy dỗ, nói
chung có kiến thức cơ bản vững chắc, tư duy sâu sắc, làm việc cẩn thận,
tỷ mỷ. Cách nghiêm khắc như vậy rất có lợi cho học sinh trung học đang
trong quá trình trưởng thành. Tuy nhiên quá máy móc thì không nên. Nếu
như nói “nghiêm” là tiêu chuẩn thì máy móc lại là vấn đề phương pháp.
Cách để đạt được tiêu chuẩn cao không chỉ có một con đường. Áp dụng
nhiều phương thức linh hoạt thường có thể làm cho mục tiêu được thực
hiện nhanh nhất. Máy móc cũng có thể nói là vấn đề thái độ. Dậy dỗ với
một thái độ khó đăm đăm, thường gây ra một sự tương phản rất lớn với
thiên tính thoải mái, hoạt bát của các bạn trẻ, đương nhiên sẽ không
được các em hoan nghênh. Có khi vì quá máy móc, cho dù không nghiêm khắc
cũng khó làm cho người khác tiếp thu. Những thầy, cô giáo nghiêm khắc
mà không máy móc, ôn hoà nhưng yêu cầu rất nghiêm túc đương nhiên là
những thầy, cô giáo hoàn hảo nhất. Nhưng tính cách của con người rất
khác nhau, cùng một con người nhưng ở các thời kỳ khác nhau cũng khó có
thể hoàn toàn hài hoà thống nhất, điều này đòi hỏi các em học sinh phải
hiểu các thầy, cô giáo.
Trước tiên đa số các thầy, cô giáo quá máy móc là xuất phát từ động cơ tốt, họ có mong muốn mạnh mẽ rằng học sinh học tập tốt, lớn lên lành mạnh, có lúc vì nóng lòng, suốt ruột, cho rằng như thế có thể buộc học sinh cố gắng hơn. Vô tình, họ không để ý đến tính cách ngây thơ, hoạt bát, tư duy linh hoạt, luôn biến đổi của học sinh, cũng không để ý đến không khí chan hoà, thoải mái giữa thầy trò. Nếu như chúng ta lấy cái sai để đối phó với cái sai, dùng cách “kính nhi viễn chi”, không chú ý nghe bài của thầy, buông lỏng việc học tập môn của thầy, cô ấy, thì người chịu thiệt thòi lại chính là bản thân các em học sinh.
Nếu như chúng ta hiểu được sự tận tuỵ của thầy, cô giáo, lòng chúng ta sẽ nhẹ nhàng hơn. Chúng ta sẽ chuyên cần tiếp thu kiến thức mà bỏ qua thái độ và phương pháp không đúng của thầy, cô giáo. Trong dịp nào đó thuận tiện, sẽ nói với thầy, cô giáo những cảm nhận của mình, hoặc ca ngợi ưu điểm của một thầy, cô giáo nào đó có phong cách ngược lại, có lẽ sẽ có thể làm cho thầy, cô giáo quá máy móc hiểu ra.
Con người phải trải qua một quá trình tu dưỡng mới nhận rõ được khuyết điểm và thiếu sót của mình. Các thầy, cô giáo cũng như vậy. Với thời gian kinh nghiệm giảng dậy phong phú dần lên, ngày càng từng trải hơn, các thầy, cô giáo sẽ tìm ra phương pháp tốt hơn. Là những học sinh, nếu chúng ta kiên trì chờ đợi, kính trọng, chủ động giao lưu tình cảm với các thầy, cô giáo tin tưởng rằng trước mặt là những học trò tin yêu và tôn kính thầy cô, những người quá máy móc sẽ thay đổi thái độ và phương pháp không phù hợp.
Xây dựng không khí cởi mở và chan hoà cần có sự nỗ lực của cả thầy lẫn trò.
Khi thầy cô trách mắng ?
Trong quan hệ giữa thầy trò cũng thường gặp hiện tượng “đối đầu”, tức quan hệ giữa thầy trò rất căng thẳng. Thầy, cô giáo yêu cầu học sinh làm một việc nào đó, học sinh nhất định không làm; Thầy, cô giáo phê bình, học sinh không tiếp thu và dễ có những lời nói trái ý với thầy, cô giáo, đó là những biểu hiện cụ thể của hiện tượng “đối đầu”, từ đó làm cho quan hệ thầy trò xấu đi, hai bên đều có ý kiến hoặc thành kiến phiến diện, ảnh hưởng không tốt đến không khí dạy và học. Loại hiện tượng này ở tiểu học hầu như không có, ở bậc đại học cũng rất ít gặp, vì sao trong giai đoạn trung học lại khá phổ biến? Điều này có quan hệ rất nhiều với những đặc điểm tâm lý và thay đổi nhận thức của các em ở lứa tuổi mới lớn.
Các nhà tâm lý học cho rằng, học sinh trung học đang ở trong quá trình chuyển hoá từ thời kỳ thơ ấu sang thời kỳ trưởng thành, sinh lý và tâm lý của các em có những thay đổi mạnh mẽ. Ý thức về bản thân của học sinh trung học có một bước phát triển, ý thức về bản thân là nhận thức về mình và về quan hệ xã hội xung quanh. Do ý thức về bản thân được tăng cường, dần đi đến độc lập, đó là một mặt tốt. Nhưng do ý thức về bản thân của học sinh trung học phát triển chưa chín muồi, thường mang theo mầu sắc chủ quan và mù quáng. Ví dụ, có em khi các bạn đánh giá không chính xác, nhìn thấy nhiều ưu điểm của mình mà không nhìn thấy khuyết điểm, quá tự tin, do đó không chịu nghe những lời phê bình của thầy, cô giáo, cố chấp, bảo thủ ý kiến của mình, rồi sinh ra hiện tượng “đối đầu”.
Thế giới nội tâm của học sinh trung học ngày càng phức tạp hơn, bắt đầu ít bộc lộ những diễn biến nội tâm, đó là tính khép kín. Quan sát kỹ sẽ phát hiện thấy rằng, học sinh trung học khoảng lớp 6, lớp 7, có ngăn kéo để đồ riêng thường khoá lại, dường như trong đó có cất giấu thứ gì đó bí mật; không ít học sinh trung học tỏ ý không bằng lòng hoặc từ chối khi cha mẹ yêu cầu xem ghi chép riêng của các em; những thay đổi tình cảm nói chung không dễ lộ ra, cho dù có những xáo động cũng thường cố gắng giấu kín. Tính khép kín phát triển chứng tỏ mức độ thay đổi về chiều sâu của hoạt động trí lực ở học sinh trung học đã nâng cao, khả năng trí lực cũng tăng cường lên khá nhiều. Nhưng tính khép kín cũng thường làm cho học sinh trung học không muốn nói những chuyện tâm lý với thầy, cô giáo, gây trở ngại cho việc giao lưu giữa thầy và trò. Nếu lời nói và cử chỉ của thầy, cô giáo có gì không cẩn thận hoặc đụng chạm đến bí mật tâm lý của học sinh (như việc giao lưu giữa học sinh nam nữ) đều sẽ gây ra những phản ứng tình cảm của học sinh và sinh ra hiện tượng “đối đầu”.
Hiện tượng dao động bất định của các bạn trẻ ở tuổi mới lớn là một đặc điểm rõ rệt. Ví dụ, biên độ thăng trầm của tâm lý, tình cảm dễ bị xáo động, dễ nổi nóng, dễ hành động cực đoan mà không phân biệt hoàn cảnh, điều kiện, không cần biết đối tượng là ai. Các bạn trẻ mong muốn được người khác tôn trọng, mong muốn được người khác coi mình là người lớn, là một thành viên của xã hội, nhưng trên thực tế, tư duy còn chưa chín muồi, nhìn vấn đề còn chưa toàn diện, chưa có ý kiến độc lập; Lòng tự trọng của các bạn trẻ cao, muốn vươn lên và hiếu thắng, nhưng thường nhìn vấn đề theo một chiều, dễ lung lay, dễ quá tả. Hiện tượng “đối đầu” giữa thầy trò ở giai đoạn trung học, không thể không nói rằng có quan hệ trực tiếp với những nhân tố của tuổi mới lớn.
Đương nhiên, quả thật cũng có một số rất ít thầy, cô giáo không được học sinh hoan nghênh. Ví dụ, phương pháp giảng dậy khô khan, vô vị, không có tình cảm với học sinh, không nhìn thấy sự phát triển của tâm lý học sinh, giải quyết vấn đề thiếu công bằng, có sự thiên vị rõ ràng với một số học sinh, thường xuyên trách móc những học sinh mà mình không ưa thích… Điều này cũng chứng tỏ chất lượng của đội ngũ giáo viên trung học cần được nâng cao hơn, cần nhằm đúng những đặc điểm tâm lý sinh lý của học sinh trung học, cần cải tiến phương pháp giảng dậy, nâng cao chất lượng giáo dục; Mặt khác cũng đòi hỏi giáo viên hiểu thấu những đặc điểm sinh lý, tâm lý của học sinh trung học, thúc đẩy chúng phát triển theo hướng lành mạnh, khi phát hiện thấy những mầm mống không lành mạnh, phải giúp các em điều chỉnh tâm lý, đề phòng xẩy ra những việc ngoài ý muốn. Chỉ có như vậy mới có thể cải thiện quan hệ thầy trò, nhằm giảm bớt hiện tượng “đối đầu” ở giai đoạn trung học.
Hiện nay vấn đề giáo dục về tuổi mới lớn còn chưa phổ biến trong giáo viên và học sinh. Thầy, cô giáo quan tâm nhiều đến bài vở của học sinh, nhưng ít quan tâm đến sự phát triển nhân cách và tâm lý của các em. Thầy, cô giáo còn thiếu hiểu biết về ý nghĩa hàm chứa trong 3 chữ “tuổi mới lớn”. Vì vậy, việc bổ túc một “bài” về giáo dục cho tuổi mới lớn, nhằm tăng thêm chỗ dựa và tạo tiếng nói chung cho học sinh và giáo viên là cách cơ bản để loại bỏ hiện tượng “đối đầu”.
Trước tiên đa số các thầy, cô giáo quá máy móc là xuất phát từ động cơ tốt, họ có mong muốn mạnh mẽ rằng học sinh học tập tốt, lớn lên lành mạnh, có lúc vì nóng lòng, suốt ruột, cho rằng như thế có thể buộc học sinh cố gắng hơn. Vô tình, họ không để ý đến tính cách ngây thơ, hoạt bát, tư duy linh hoạt, luôn biến đổi của học sinh, cũng không để ý đến không khí chan hoà, thoải mái giữa thầy trò. Nếu như chúng ta lấy cái sai để đối phó với cái sai, dùng cách “kính nhi viễn chi”, không chú ý nghe bài của thầy, buông lỏng việc học tập môn của thầy, cô ấy, thì người chịu thiệt thòi lại chính là bản thân các em học sinh.
Nếu như chúng ta hiểu được sự tận tuỵ của thầy, cô giáo, lòng chúng ta sẽ nhẹ nhàng hơn. Chúng ta sẽ chuyên cần tiếp thu kiến thức mà bỏ qua thái độ và phương pháp không đúng của thầy, cô giáo. Trong dịp nào đó thuận tiện, sẽ nói với thầy, cô giáo những cảm nhận của mình, hoặc ca ngợi ưu điểm của một thầy, cô giáo nào đó có phong cách ngược lại, có lẽ sẽ có thể làm cho thầy, cô giáo quá máy móc hiểu ra.
Con người phải trải qua một quá trình tu dưỡng mới nhận rõ được khuyết điểm và thiếu sót của mình. Các thầy, cô giáo cũng như vậy. Với thời gian kinh nghiệm giảng dậy phong phú dần lên, ngày càng từng trải hơn, các thầy, cô giáo sẽ tìm ra phương pháp tốt hơn. Là những học sinh, nếu chúng ta kiên trì chờ đợi, kính trọng, chủ động giao lưu tình cảm với các thầy, cô giáo tin tưởng rằng trước mặt là những học trò tin yêu và tôn kính thầy cô, những người quá máy móc sẽ thay đổi thái độ và phương pháp không phù hợp.
Xây dựng không khí cởi mở và chan hoà cần có sự nỗ lực của cả thầy lẫn trò.
Khi thầy cô trách mắng ?
Trong quan hệ giữa thầy trò cũng thường gặp hiện tượng “đối đầu”, tức quan hệ giữa thầy trò rất căng thẳng. Thầy, cô giáo yêu cầu học sinh làm một việc nào đó, học sinh nhất định không làm; Thầy, cô giáo phê bình, học sinh không tiếp thu và dễ có những lời nói trái ý với thầy, cô giáo, đó là những biểu hiện cụ thể của hiện tượng “đối đầu”, từ đó làm cho quan hệ thầy trò xấu đi, hai bên đều có ý kiến hoặc thành kiến phiến diện, ảnh hưởng không tốt đến không khí dạy và học. Loại hiện tượng này ở tiểu học hầu như không có, ở bậc đại học cũng rất ít gặp, vì sao trong giai đoạn trung học lại khá phổ biến? Điều này có quan hệ rất nhiều với những đặc điểm tâm lý và thay đổi nhận thức của các em ở lứa tuổi mới lớn.
Các nhà tâm lý học cho rằng, học sinh trung học đang ở trong quá trình chuyển hoá từ thời kỳ thơ ấu sang thời kỳ trưởng thành, sinh lý và tâm lý của các em có những thay đổi mạnh mẽ. Ý thức về bản thân của học sinh trung học có một bước phát triển, ý thức về bản thân là nhận thức về mình và về quan hệ xã hội xung quanh. Do ý thức về bản thân được tăng cường, dần đi đến độc lập, đó là một mặt tốt. Nhưng do ý thức về bản thân của học sinh trung học phát triển chưa chín muồi, thường mang theo mầu sắc chủ quan và mù quáng. Ví dụ, có em khi các bạn đánh giá không chính xác, nhìn thấy nhiều ưu điểm của mình mà không nhìn thấy khuyết điểm, quá tự tin, do đó không chịu nghe những lời phê bình của thầy, cô giáo, cố chấp, bảo thủ ý kiến của mình, rồi sinh ra hiện tượng “đối đầu”.
Thế giới nội tâm của học sinh trung học ngày càng phức tạp hơn, bắt đầu ít bộc lộ những diễn biến nội tâm, đó là tính khép kín. Quan sát kỹ sẽ phát hiện thấy rằng, học sinh trung học khoảng lớp 6, lớp 7, có ngăn kéo để đồ riêng thường khoá lại, dường như trong đó có cất giấu thứ gì đó bí mật; không ít học sinh trung học tỏ ý không bằng lòng hoặc từ chối khi cha mẹ yêu cầu xem ghi chép riêng của các em; những thay đổi tình cảm nói chung không dễ lộ ra, cho dù có những xáo động cũng thường cố gắng giấu kín. Tính khép kín phát triển chứng tỏ mức độ thay đổi về chiều sâu của hoạt động trí lực ở học sinh trung học đã nâng cao, khả năng trí lực cũng tăng cường lên khá nhiều. Nhưng tính khép kín cũng thường làm cho học sinh trung học không muốn nói những chuyện tâm lý với thầy, cô giáo, gây trở ngại cho việc giao lưu giữa thầy và trò. Nếu lời nói và cử chỉ của thầy, cô giáo có gì không cẩn thận hoặc đụng chạm đến bí mật tâm lý của học sinh (như việc giao lưu giữa học sinh nam nữ) đều sẽ gây ra những phản ứng tình cảm của học sinh và sinh ra hiện tượng “đối đầu”.
Hiện tượng dao động bất định của các bạn trẻ ở tuổi mới lớn là một đặc điểm rõ rệt. Ví dụ, biên độ thăng trầm của tâm lý, tình cảm dễ bị xáo động, dễ nổi nóng, dễ hành động cực đoan mà không phân biệt hoàn cảnh, điều kiện, không cần biết đối tượng là ai. Các bạn trẻ mong muốn được người khác tôn trọng, mong muốn được người khác coi mình là người lớn, là một thành viên của xã hội, nhưng trên thực tế, tư duy còn chưa chín muồi, nhìn vấn đề còn chưa toàn diện, chưa có ý kiến độc lập; Lòng tự trọng của các bạn trẻ cao, muốn vươn lên và hiếu thắng, nhưng thường nhìn vấn đề theo một chiều, dễ lung lay, dễ quá tả. Hiện tượng “đối đầu” giữa thầy trò ở giai đoạn trung học, không thể không nói rằng có quan hệ trực tiếp với những nhân tố của tuổi mới lớn.
Đương nhiên, quả thật cũng có một số rất ít thầy, cô giáo không được học sinh hoan nghênh. Ví dụ, phương pháp giảng dậy khô khan, vô vị, không có tình cảm với học sinh, không nhìn thấy sự phát triển của tâm lý học sinh, giải quyết vấn đề thiếu công bằng, có sự thiên vị rõ ràng với một số học sinh, thường xuyên trách móc những học sinh mà mình không ưa thích… Điều này cũng chứng tỏ chất lượng của đội ngũ giáo viên trung học cần được nâng cao hơn, cần nhằm đúng những đặc điểm tâm lý sinh lý của học sinh trung học, cần cải tiến phương pháp giảng dậy, nâng cao chất lượng giáo dục; Mặt khác cũng đòi hỏi giáo viên hiểu thấu những đặc điểm sinh lý, tâm lý của học sinh trung học, thúc đẩy chúng phát triển theo hướng lành mạnh, khi phát hiện thấy những mầm mống không lành mạnh, phải giúp các em điều chỉnh tâm lý, đề phòng xẩy ra những việc ngoài ý muốn. Chỉ có như vậy mới có thể cải thiện quan hệ thầy trò, nhằm giảm bớt hiện tượng “đối đầu” ở giai đoạn trung học.
Hiện nay vấn đề giáo dục về tuổi mới lớn còn chưa phổ biến trong giáo viên và học sinh. Thầy, cô giáo quan tâm nhiều đến bài vở của học sinh, nhưng ít quan tâm đến sự phát triển nhân cách và tâm lý của các em. Thầy, cô giáo còn thiếu hiểu biết về ý nghĩa hàm chứa trong 3 chữ “tuổi mới lớn”. Vì vậy, việc bổ túc một “bài” về giáo dục cho tuổi mới lớn, nhằm tăng thêm chỗ dựa và tạo tiếng nói chung cho học sinh và giáo viên là cách cơ bản để loại bỏ hiện tượng “đối đầu”.
Thứ Năm, 25 tháng 4, 2013
CodeVisionAVR 2.05.0 – Phần mềm lập trình cho vi điều khiển Atmel AVR
CodeVisionAVR – là một môi trường phát triển tích hợp phần mềm cho vi
điều khiển Atmel AVR. Nó cung cấp sự hỗ trợ rộng rãi cho các thiết bị
AVR và tạo ra một đoạn mã nhỏ gọn và hiệu quả.
CodeVisionAVR bao gồm các thành phần sau:
- Trình biên dịch ngôn ngữ C cho AVR;
- Trình biên dịch hợp ngữ cho AVR;
- Các máy phát điện của mã chương trình ban đầu cho phép khởi tạo thiết bị ngoại vi;
- Module giao tiếp với debug board STK-500;
- Module tương tác với các lập trình viên;
- Terminal.
CodeVisionAVR cho tập tin đầu ra là:
- HEX, BIN hoặc tập tin ROM để nạp vào thiết bị thông qua lập trình;
- COFF – file có chứa thông tin cho trình gỡ lỗi;
- OBJ – file.
Hiện nay, CodeVisionAVR bao gồm các thư viện và các ví dụ sau đây:
- Alphanumeric LCD modules for up to 4×40 characters;
- Philips I²C Bus;
- National Semiconductor LM75 Temperature Sensor;
- Maxim/Dallas Semiconductor DS1621 Thermometer/Thermostat;
- Philips PCF8563 and PCF8583 Real Time Clocks;
- Maxim/Dallas Semiconductor DS1302 and DS1307 Real Time Clocks;
- Maxim/Dallas Semiconductor 1 Wire protocol;
- Maxim/Dallas Semiconductor DS1820/DS18B20/DS1822 1 Wire Temperature – Sensors;
- Maxim/Dallas Semiconductor DS2430/DS2433 1 Wire EEPROMs;
- SPI;
- MMC/SD/SD HC FLASH Memory Card drivers and FAT12, FAT16, FAT32 access libraries;
- Power management;
- Delays;
- BCD and Gray code conversion.
Nó hỗ trợ hầu hết các vi điều khiển Atmel AVR. Phiên bản mới thêm hỗ trợ cho vi điều khiển với một kernel ATxmega.
Phát triển: HP InfoTech
OS: Windows 98/2000/XP/Vista/7
Ngôn ngữ: English
Link down mediafire : http://www.mediafire.com/?4ca6wxz8inseqhr
CodeVisionAVR bao gồm các thành phần sau:
- Trình biên dịch ngôn ngữ C cho AVR;
- Trình biên dịch hợp ngữ cho AVR;
- Các máy phát điện của mã chương trình ban đầu cho phép khởi tạo thiết bị ngoại vi;
- Module giao tiếp với debug board STK-500;
- Module tương tác với các lập trình viên;
- Terminal.
CodeVisionAVR cho tập tin đầu ra là:
- HEX, BIN hoặc tập tin ROM để nạp vào thiết bị thông qua lập trình;
- COFF – file có chứa thông tin cho trình gỡ lỗi;
- OBJ – file.
Hiện nay, CodeVisionAVR bao gồm các thư viện và các ví dụ sau đây:
- Alphanumeric LCD modules for up to 4×40 characters;
- Philips I²C Bus;
- National Semiconductor LM75 Temperature Sensor;
- Maxim/Dallas Semiconductor DS1621 Thermometer/Thermostat;
- Philips PCF8563 and PCF8583 Real Time Clocks;
- Maxim/Dallas Semiconductor DS1302 and DS1307 Real Time Clocks;
- Maxim/Dallas Semiconductor 1 Wire protocol;
- Maxim/Dallas Semiconductor DS1820/DS18B20/DS1822 1 Wire Temperature – Sensors;
- Maxim/Dallas Semiconductor DS2430/DS2433 1 Wire EEPROMs;
- SPI;
- MMC/SD/SD HC FLASH Memory Card drivers and FAT12, FAT16, FAT32 access libraries;
- Power management;
- Delays;
- BCD and Gray code conversion.
Nó hỗ trợ hầu hết các vi điều khiển Atmel AVR. Phiên bản mới thêm hỗ trợ cho vi điều khiển với một kernel ATxmega.
Phát triển: HP InfoTech
OS: Windows 98/2000/XP/Vista/7
Ngôn ngữ: English
Link down mediafire : http://www.mediafire.com/?4ca6wxz8inseqhr
Thứ Tư, 24 tháng 4, 2013
Thứ Ba, 23 tháng 4, 2013
Thứ Hai, 22 tháng 4, 2013
những tuyệt phẩm của anh Bo
1. mùa thu kỉ niệm
2. Dòng sông băng
3. tình khúc vàng
4. Ngôi sao bay
5. tiễn bước người đi
6.Nội tôi
7. đắng khổ qua
8.thà người đừng nói
9. Dòng máu lạc hồng
10. Cắn môi tình còn đau
Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2013
Làm sao để ngừng đố kỵ với thành công của người khác
Đố kỵ là thường tình. Nhưng bạn có bị tác động tiêu cực bởi nó
hay không? Hiểu được cách làm thế nào để ngừng ghen tị có thể giúp bạn
kiểm soát cuộc sống của chính mình và sống tốt hơn. (Amelie Lee)
Lòng ghen tị là cảm xúc tự nhiên như đang yêu hay tìm kiếm ai đó hấp dẫn.
Trong một số thời điểm, ghen tị là không thể tránh khỏi, nhưng nó không bao giờ được trở thành nỗii ám ảnh.
Tất cả chúng ta cảm thấy ghen tị những lúc này hay những lúc khác
Chỉ cần nó qua đi và nó không dằn vặt bạn, bạn không phải lo lắng gì.
Nhưng nếu điều gì đó trong tính đố kỵ chi phối cách bạn cảm nhận, và ảnh hưởng đến cuộc sống của bạn, thì bạn thực sự cần phải tìm cách ngăn nó lại và làm chủ cảm xúc trước khi nó chế ngự cuộc sống của bạn.
Đố kỵ là gì?
Đã bao giờ bạn cảm thấy buồn vô cớ với mọi thứ khi một người bạn đạt được điều gì đó mà bạn luôn mong muốn?
Nếu hạnh phúc và thành công của ai đó làm bạn buồn bực, thậm chí là khi nó không có gì dính dáng đến bạn, thì có thể bạn đang trải qua cảm xúc ghen tị.
Ở nơi làm việc hay trong lớp học, chúng ta phải đối mặt với rất nhiều người luôn may mắn hơn trong khi bạn lại bị thiệt thòi.
Dù là rất tự nhiên khi ta buồn bởi may mắn của một ai đó là nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của ta, nhưng cảm xúc tức giận hay thất bại vẫn không nên thể hiện cùng với lòng đố kỵ.
Làm thế nào để thôi ghen tị
Sự đố lỵ sẽ chẳng bao giờ giúp ích cho bạn. Bạn có thể cảm thấy ghen ghét một người bạn có sức lôi cuốn giữa đám đông hay bởi vì họ được đề bạt. Nhưng làm thế nào mà lòng ghen tị ấy làm thay đổi bất kỳ điều gì trong cuộc sống của bạn?
Bạn có thể trầm tư về nó hoặc tốn hàng giờ mỗi ngày phác họa âm mưu trả thù hoặc ghen ghét với ai đó bởi vì họ tốt hơn bạn hay may mắn hơn bạn. Nhưng bạn chỉ đang phí phạm cuộc sống của chính mình, trong khi đối tượng của sự đố kỵ trong bạn thậm chí chẳng mảy may nghĩ đến bạn.
Kết quả là, lòng ghen tị sẽ chẳng giúp ích gì cho bạn và nó thực sự sẽ chẳng đưa bạn đến nơi tốt hơn.
Một vài người được ban tặng những khả năng tốt hơn và một số phải làm việc chăm chỉ. Và tất cả những gì đã nói và đã làm, sự cống hiến và say mê đều cũng có thể giúp bạn thành công như thế.
Mặt khác, lòng ghen tị sẽ làm bạn mù quáng và khiến bạn phải dành hàng giờ cho việc tưởng tượng về những tình huống sẽ chẳng bao giờ có thực. Bạn sẽ vẫn chỉ là người đố kỵ như hiện tại thậm chí sau khi trải qua nhiều giờ và nhiều ngày trong những ý nghĩ và ý tưởng ghen tị.
Những cách để ngừng ghen tị với người khác
Nếu bạn cảm thấy như bạn bị ám ảnh bởi may mắn hay thất bại của một ai đó, đó là cơ hội thuận lợi khiến bạn đố kỵ.
Dùng những cách này để chặn đứng lòng ghen ghét và hướng tất cả những nguồn tiêu cực vào những điều tích cực điều này đích thực có thể giúp bạn hướng đến một cuộc sống tốt hơn.
#1 Đừng sống trong thế giới của những so sánh. Thế giới này nơi mà cuộc sống của mỗi người được chia sẻ với mọi người qua các mạng xã hội, thật dễ dàng để luôn so sánh bản thân bạn với những người ngang hàng và những đối thủ của bạn.
Nếu cạnh tranh lành mạnh là dấu hiệu tốt, thì hiển nhiên đó không phải là đố kỵ. Nếu bạn muốn thành công trong cuộc sống, hãy đấu tranh với chính mình. Hãy so sánh với quá khứ của chính mình và cố gắng hơn nữa mỗi ngày. Điều đó sẽ giúp bạn trở thành người giỏi nhất bạn có thể tránh được việc trở thành nạn nhân của sự ghen tị nhỏ nhặt.
#2 Những thành công của bạn là có ý nghĩa. Hãy chúc mừng cho những thành công của chính mình, mặc dầu chúng có thể nhỏ. “Thành Rome không thể xây xong trong một hôm”. Bạn không thể ghét ai đó chỉ vì họ nổi tiếng hay kiếm được nhiều tiền hơn bạn. Bởi tại một thời điểm nào đó, họ đã từng ở vị trí giống như bạn bây giờ.
Cuộc sống không dễ dàng. Nhưng với nỗ lực nghiêm túc và cống hiến, bạn có thể đạt được những giấc mơ của chính mình. Hạnh phúc của bạn dựa trên những thành quả của bạn chứ không phải là những thành quả của người khác, hoặc là bạn sẽ luôn thấy giận hờn và đau khổ ở chính mình.
#3 Hãy đam mê cuộc sống của bạn. Hãy yêu bản thân và tôn trọng cuộc sống của chính bạn. Nếu bạn không hạnh phúc, Hãy chọn một con đường mới mà bạn yêu thích. Khi bạn tôn trọng chính mình, bạn sẽ không đố kỵ nhiều nữa. Bạn có thể thèm muốn, nhưng không phải là đố kỵ bởi vì bạn tin vào năng lực của chính mình. Nếu ai đó tốt hơn bạn, đó là lý do để bạn ước muốn được như họ và làm việc chăm chỉ hơn, chứ không phải ghen tị và mong ước họ kém đi.
#4 Hãy tự hỏi mình sự thật. Tại sao bạn buồn bực khi vài người khác thành công trong việc gì đó hơn bạn? Có rất nhiều người giữa cuộc sống này. Tại sao bạn lại móc nối tất cả sự ghen tị và những thành công của mình với chỉ một người? Phải chăng bạn thật nhỏ nhặt và trì trệ với việc quá lo lắng về những cạnh tranh nhỏ nhặt khi ngoài kia có cả một thế giới của những cơ hội ở đó?
#5. Cuộc sống không công bằng. Hãy đối phó với điều đó. Vài người có cuộc sống tốt hơn và những cơ hội tốt hơn. Bạn sẽ làm gì với điều đó? Bạn không thể làm điều gì khác hơn là tạo ra may mắn cho chính mình. Tưởng tượng viển vông với sự ghen tỵ của mình sẽ chẳng đưa bạn đi đến đâu. Bạn biết rõ điều này mà phải không?
#6 Hãy thôi ao ước bạn là một người nào đó. Bạn không như thế. Và bạn sẽ không trở thành bất cứ ai chỉ với việc mơ tưởng. Trừ khi bạn có ý thức làm việc nhiều hơn để hướng tới thành quả, bạn sẽ tiêu tốn nốt cuộc đời cay đắng và mỏng manh còn lại của mình chỉ vì hạnh phúc của bạn không đến từ thành công của chính bạn, mà là từ việc nhìn sự thất bại của người khác.
#7 Ai cũng có lúc này lúc khác. Cuộc sống không hẳn luôn tuyệt vời. Trong khi bạn ghen tỵ với một ai đó,thì cũng có rất nhiều nơi khác để bạn có một cuộc sống tốt hơn. Hãy thực tế và nhìn thẳng vào sự thật như nó vốn có. Tất cả trong chúng ta đôi khi thất bại và cũng đôi khi chiến thắng. Khi bạn hiểu rõ rằng bạn cũng có cuộc sống tuyệt vời, bạn sẽ quen với việc ngừng đố kỵ bất cứ lúc nào.
#8 Đừng đánh mất cuộc sống của chính bạn. Khi bạn tập trung vào sự đố kỵ, bạn đang đánh mất cuộc sống thực tại của chính mình bởi vì bạn quá bận rộn với những suy nghĩ về những hào quang hay những lúc hạnh phúc của một người nào đó. Bạn có thể ghét ai đó chỉ vì họ dễ thương hơn hay được chú ý nhiều hơn, nhưng những gì bạn không nhận ra đó là cuộc sống của bạn trì trệ và thậm chí không có gì thay đổi trừ khi bạn làm điều gì đó về những sai sót và khiếm khuyết của chính mình.
#9 Hãy luôn tích cực. Hãy tự tin và theo đuổi những giấc mơ của chính mình. Ghen tỵ là một cách chấp nhận sự thất bại. Tại sao bạn ghen tỵ? Phải chăng bạn nghĩ rằng một ngày nào đó bạn có khả năng đạt được những ước muốn giống như người mà bạn đố kỵ? Lòng ghen tỵ là phản ứng tiềm thức trong suy nghĩ của bạn khi bỏ cuộc và than vãn về cuộc sống bất công. Đừng khất phục nó. Thay vào đó, hãy đi ra ngoài và cải thiện mình tốt hơn.
#10 Lòng đố kỵ xuất phát từ nỗi sợ hãi. Bạn sợ những gì? Hầu như luôn luôn, sự ghen tỵ nảy sinh từ một nỗi sợ hãi bên trong rằng bạn chẳng bao giờ đạt được những điều giống như người khác. Bạn càng đố kỵ, bạn đang càng thuyết phục chính mình rằng bạn không giỏi. Trừ khi bạn làm điều gì đó với nổi sợ hãi đó, nếu không bạn sẽ tiêu tốn quãng đời còn lại với cảm giác cay đắng và hận thù. Hãy xác định lòng ghen tị, nhất là gạt đi việc bỏ cuộc và bạn sẽ dứt khoát ngưng đố kỵ trong bất cứ lúc nào.
Có nhiều điều ghen tị rất nhỏ được chấp nhận. Nhưng nếu bạn cảm thấy như lòng đố kỵ của mình đang vượt ra khỏi tầm kiểm soát, thì bạn phải hiểu lòng ghen tị đó thực sự là gì và nó sẽ phá hỏng cuộc sống của bạn từ bên trong như thế nào.
Và khi bạn sẵn sàng rồi, hãy dùng 10 lời khuyên làm thế nào ngưng đố kỵ với sự may mắn của người nào đó. Nó có thể tạo nên thế giới của sự khác biệt đến với cuộc sống của bạn chỉ khi bạn hiểu rõ hạn chế như thế nào lòng ghen ghét, và nó có thể khiến bạn cảm thấy cay đắng ra sao vào bất cứ lúc nào.My Great Web page
Lòng ghen tị là cảm xúc tự nhiên như đang yêu hay tìm kiếm ai đó hấp dẫn.
Trong một số thời điểm, ghen tị là không thể tránh khỏi, nhưng nó không bao giờ được trở thành nỗii ám ảnh.
Tất cả chúng ta cảm thấy ghen tị những lúc này hay những lúc khác
Chỉ cần nó qua đi và nó không dằn vặt bạn, bạn không phải lo lắng gì.
Nhưng nếu điều gì đó trong tính đố kỵ chi phối cách bạn cảm nhận, và ảnh hưởng đến cuộc sống của bạn, thì bạn thực sự cần phải tìm cách ngăn nó lại và làm chủ cảm xúc trước khi nó chế ngự cuộc sống của bạn.
Đố kỵ là gì?
Đã bao giờ bạn cảm thấy buồn vô cớ với mọi thứ khi một người bạn đạt được điều gì đó mà bạn luôn mong muốn?
Nếu hạnh phúc và thành công của ai đó làm bạn buồn bực, thậm chí là khi nó không có gì dính dáng đến bạn, thì có thể bạn đang trải qua cảm xúc ghen tị.
Ở nơi làm việc hay trong lớp học, chúng ta phải đối mặt với rất nhiều người luôn may mắn hơn trong khi bạn lại bị thiệt thòi.
Dù là rất tự nhiên khi ta buồn bởi may mắn của một ai đó là nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của ta, nhưng cảm xúc tức giận hay thất bại vẫn không nên thể hiện cùng với lòng đố kỵ.
Làm thế nào để thôi ghen tị
Sự đố lỵ sẽ chẳng bao giờ giúp ích cho bạn. Bạn có thể cảm thấy ghen ghét một người bạn có sức lôi cuốn giữa đám đông hay bởi vì họ được đề bạt. Nhưng làm thế nào mà lòng ghen tị ấy làm thay đổi bất kỳ điều gì trong cuộc sống của bạn?
Bạn có thể trầm tư về nó hoặc tốn hàng giờ mỗi ngày phác họa âm mưu trả thù hoặc ghen ghét với ai đó bởi vì họ tốt hơn bạn hay may mắn hơn bạn. Nhưng bạn chỉ đang phí phạm cuộc sống của chính mình, trong khi đối tượng của sự đố kỵ trong bạn thậm chí chẳng mảy may nghĩ đến bạn.
Kết quả là, lòng ghen tị sẽ chẳng giúp ích gì cho bạn và nó thực sự sẽ chẳng đưa bạn đến nơi tốt hơn.
Một vài người được ban tặng những khả năng tốt hơn và một số phải làm việc chăm chỉ. Và tất cả những gì đã nói và đã làm, sự cống hiến và say mê đều cũng có thể giúp bạn thành công như thế.
Mặt khác, lòng ghen tị sẽ làm bạn mù quáng và khiến bạn phải dành hàng giờ cho việc tưởng tượng về những tình huống sẽ chẳng bao giờ có thực. Bạn sẽ vẫn chỉ là người đố kỵ như hiện tại thậm chí sau khi trải qua nhiều giờ và nhiều ngày trong những ý nghĩ và ý tưởng ghen tị.
Những cách để ngừng ghen tị với người khác
Nếu bạn cảm thấy như bạn bị ám ảnh bởi may mắn hay thất bại của một ai đó, đó là cơ hội thuận lợi khiến bạn đố kỵ.
Dùng những cách này để chặn đứng lòng ghen ghét và hướng tất cả những nguồn tiêu cực vào những điều tích cực điều này đích thực có thể giúp bạn hướng đến một cuộc sống tốt hơn.
#1 Đừng sống trong thế giới của những so sánh. Thế giới này nơi mà cuộc sống của mỗi người được chia sẻ với mọi người qua các mạng xã hội, thật dễ dàng để luôn so sánh bản thân bạn với những người ngang hàng và những đối thủ của bạn.
Nếu cạnh tranh lành mạnh là dấu hiệu tốt, thì hiển nhiên đó không phải là đố kỵ. Nếu bạn muốn thành công trong cuộc sống, hãy đấu tranh với chính mình. Hãy so sánh với quá khứ của chính mình và cố gắng hơn nữa mỗi ngày. Điều đó sẽ giúp bạn trở thành người giỏi nhất bạn có thể tránh được việc trở thành nạn nhân của sự ghen tị nhỏ nhặt.
#2 Những thành công của bạn là có ý nghĩa. Hãy chúc mừng cho những thành công của chính mình, mặc dầu chúng có thể nhỏ. “Thành Rome không thể xây xong trong một hôm”. Bạn không thể ghét ai đó chỉ vì họ nổi tiếng hay kiếm được nhiều tiền hơn bạn. Bởi tại một thời điểm nào đó, họ đã từng ở vị trí giống như bạn bây giờ.
Cuộc sống không dễ dàng. Nhưng với nỗ lực nghiêm túc và cống hiến, bạn có thể đạt được những giấc mơ của chính mình. Hạnh phúc của bạn dựa trên những thành quả của bạn chứ không phải là những thành quả của người khác, hoặc là bạn sẽ luôn thấy giận hờn và đau khổ ở chính mình.
#3 Hãy đam mê cuộc sống của bạn. Hãy yêu bản thân và tôn trọng cuộc sống của chính bạn. Nếu bạn không hạnh phúc, Hãy chọn một con đường mới mà bạn yêu thích. Khi bạn tôn trọng chính mình, bạn sẽ không đố kỵ nhiều nữa. Bạn có thể thèm muốn, nhưng không phải là đố kỵ bởi vì bạn tin vào năng lực của chính mình. Nếu ai đó tốt hơn bạn, đó là lý do để bạn ước muốn được như họ và làm việc chăm chỉ hơn, chứ không phải ghen tị và mong ước họ kém đi.
#4 Hãy tự hỏi mình sự thật. Tại sao bạn buồn bực khi vài người khác thành công trong việc gì đó hơn bạn? Có rất nhiều người giữa cuộc sống này. Tại sao bạn lại móc nối tất cả sự ghen tị và những thành công của mình với chỉ một người? Phải chăng bạn thật nhỏ nhặt và trì trệ với việc quá lo lắng về những cạnh tranh nhỏ nhặt khi ngoài kia có cả một thế giới của những cơ hội ở đó?
#5. Cuộc sống không công bằng. Hãy đối phó với điều đó. Vài người có cuộc sống tốt hơn và những cơ hội tốt hơn. Bạn sẽ làm gì với điều đó? Bạn không thể làm điều gì khác hơn là tạo ra may mắn cho chính mình. Tưởng tượng viển vông với sự ghen tỵ của mình sẽ chẳng đưa bạn đi đến đâu. Bạn biết rõ điều này mà phải không?
#6 Hãy thôi ao ước bạn là một người nào đó. Bạn không như thế. Và bạn sẽ không trở thành bất cứ ai chỉ với việc mơ tưởng. Trừ khi bạn có ý thức làm việc nhiều hơn để hướng tới thành quả, bạn sẽ tiêu tốn nốt cuộc đời cay đắng và mỏng manh còn lại của mình chỉ vì hạnh phúc của bạn không đến từ thành công của chính bạn, mà là từ việc nhìn sự thất bại của người khác.
#7 Ai cũng có lúc này lúc khác. Cuộc sống không hẳn luôn tuyệt vời. Trong khi bạn ghen tỵ với một ai đó,thì cũng có rất nhiều nơi khác để bạn có một cuộc sống tốt hơn. Hãy thực tế và nhìn thẳng vào sự thật như nó vốn có. Tất cả trong chúng ta đôi khi thất bại và cũng đôi khi chiến thắng. Khi bạn hiểu rõ rằng bạn cũng có cuộc sống tuyệt vời, bạn sẽ quen với việc ngừng đố kỵ bất cứ lúc nào.
#8 Đừng đánh mất cuộc sống của chính bạn. Khi bạn tập trung vào sự đố kỵ, bạn đang đánh mất cuộc sống thực tại của chính mình bởi vì bạn quá bận rộn với những suy nghĩ về những hào quang hay những lúc hạnh phúc của một người nào đó. Bạn có thể ghét ai đó chỉ vì họ dễ thương hơn hay được chú ý nhiều hơn, nhưng những gì bạn không nhận ra đó là cuộc sống của bạn trì trệ và thậm chí không có gì thay đổi trừ khi bạn làm điều gì đó về những sai sót và khiếm khuyết của chính mình.
#9 Hãy luôn tích cực. Hãy tự tin và theo đuổi những giấc mơ của chính mình. Ghen tỵ là một cách chấp nhận sự thất bại. Tại sao bạn ghen tỵ? Phải chăng bạn nghĩ rằng một ngày nào đó bạn có khả năng đạt được những ước muốn giống như người mà bạn đố kỵ? Lòng ghen tỵ là phản ứng tiềm thức trong suy nghĩ của bạn khi bỏ cuộc và than vãn về cuộc sống bất công. Đừng khất phục nó. Thay vào đó, hãy đi ra ngoài và cải thiện mình tốt hơn.
#10 Lòng đố kỵ xuất phát từ nỗi sợ hãi. Bạn sợ những gì? Hầu như luôn luôn, sự ghen tỵ nảy sinh từ một nỗi sợ hãi bên trong rằng bạn chẳng bao giờ đạt được những điều giống như người khác. Bạn càng đố kỵ, bạn đang càng thuyết phục chính mình rằng bạn không giỏi. Trừ khi bạn làm điều gì đó với nổi sợ hãi đó, nếu không bạn sẽ tiêu tốn quãng đời còn lại với cảm giác cay đắng và hận thù. Hãy xác định lòng ghen tị, nhất là gạt đi việc bỏ cuộc và bạn sẽ dứt khoát ngưng đố kỵ trong bất cứ lúc nào.
Có nhiều điều ghen tị rất nhỏ được chấp nhận. Nhưng nếu bạn cảm thấy như lòng đố kỵ của mình đang vượt ra khỏi tầm kiểm soát, thì bạn phải hiểu lòng ghen tị đó thực sự là gì và nó sẽ phá hỏng cuộc sống của bạn từ bên trong như thế nào.
Và khi bạn sẵn sàng rồi, hãy dùng 10 lời khuyên làm thế nào ngưng đố kỵ với sự may mắn của người nào đó. Nó có thể tạo nên thế giới của sự khác biệt đến với cuộc sống của bạn chỉ khi bạn hiểu rõ hạn chế như thế nào lòng ghen ghét, và nó có thể khiến bạn cảm thấy cay đắng ra sao vào bất cứ lúc nào.
Huckleberry finn part 2
Chương 9
Tôi muốn đi coi lại cái chỗ ở đúng giữa hòn đảo mà tôi đã tìm ra trong khi thám hiểm. Cả hai chúng tôi cùng đi và tìm ra ngay, vì hòn đảo chỉ có ba dặm chiều dài và phần tư dặm chiều ngang.
Tôi muốn đi coi lại cái chỗ ở đúng giữa hòn đảo mà tôi đã tìm ra trong khi thám hiểm. Cả hai chúng tôi cùng đi và tìm ra ngay, vì hòn đảo chỉ có ba dặm chiều dài và phần tư dặm chiều ngang.
Chỗ này là một cái gò cao độ hơn chục thước vừa
dài vừa dốc. Chúng tôi trèo lên đỉnh gò cũng khá vất vả, vì hai bên sườn
dốc đứng lại bụi cây rất rậm, phải lần từng bước vòng quanh gò, rồi lát
sau mới tìm thấy một cái hang lớn trong vách đá, ăn sâu đến tận đỉnh về
phía bờ Illinois. Cái hang rộng bằng hai ba căn phòng ghép lại và Jim
có thể đứng thẳng người trong đó được. Chỗ này lạnh lắm. Jim muốn đem
ngay đồ đạc của chúng tôi vào đây, nhưng tôi bảo hơi đâu mà suốt ngày
trèo lên trèo xuống.
Jim bảo chúng tôi đã có cái xuồng giấu ở chỗ
kín, và đồ đạc thì để trong hang này, nếu có ái đến đảo, thì chúng tôi
có thể trốn chạy vào đây. Mà nếu họ không đem theo chó đi thì không thể
tìm thấy chúng tôi được. Jim còn bảo rằng những con chim non đã báo
trước là trời sắp mưa chẳng lẽ để cho đồ đạc ướt hết cả hay sao?
Thế là chúng tôi quay về xuồng, đẩy xuồng lên
phía bờ ngang chỗ có cái hang rồi khuân tất cả đồ đạc lên hang. Sau đó
chúng tôi tìm một chỗ ở gần đó giấu xuồng, giấu trong một bụi liễu rậm
rạp. Chúng tôi vớt mấy con cá ở đầu dây lên, rồi thả lưỡi câu xuống nước
và bắt đầu chuẩn bị ăn trưa.
Cửa hàng khá rộng có thể đủ để lăn một thùng
rượu to vào được. Một phía bên cửa hàng có chỗ đất nhô ra, bằng phẳng,
có thể lấy chỗ này làm bếp rất tốt. Chúng tôi đặt bếp nấu bữa trưa.
Chúng tôi trải chăn ở phía trong làm cái thảm để
ngồi đó ăn. Còn đồ đạc tiện lấy đều để ở bên trong cả. Một lúc sau,
trời tối sầm lại và bắt đầu có sấm chớp; quả là những con chim kia báo
trước rất đúng. Lập tức trời mưa liền, đổ nước xuống như thác, và chưa
bao giờ tôi thấy gió thổi dữ tợn như thế. Đó là cơn giông thường xảy vào
mùa hè. Trời càng tối, nhìn ra ngoài mọi vật xanh xanh tím tím rất đẹp.
Nước mưa đổ xuống nhiều đến nỗi những ngọn cây cao cao một chút là nhìn
cũng không rõ; trông chỉ như cái mạng nhện. Rồi mỗi cơn gió thổi đến
thì kéo những cây ấy ngã xuống và biến đổi cả cái màu xám nhạt ở dưới
những cành lá. Rồi lại một trận gió khác dữ hơn cuốn đến bắt những cành
cây phải vươn ra như những cánh tay thú vật. Rồi sau đó, đến lúc chỗ nào
cũng biến sang màu xanh màu tím cả rồi thì - úi chà; bỗng sáng hẳn lên,
trong cơn giông bão ấy cứ thử nhìn lên những ngọn cây xa xa mà xem, lại
có thể thấy nó xa hơn lúc nãy hàng trăm thước; rồi chỉ trong một giây
đồng hồ lại tối như bưng; lúc đó mới nghe thấy tiếng sét vang lên một
cách kinh khủng khiếp, rồi đến những tiếng ầm ầm, rầm rầm, dần dần từ
trên cao vọng xuống và đi đến tận phía bên kia thế giới, y như tiếng
người ta lặn cái thùng rỗng xuống cầu thang vậy, mà cầu thang dài cơ,
cái tiếng nó cũng rầm rầm như vậy. Tôi nói:
- Thú quá Jim ạ! Tôi chỉ muốn ở đây chứ không đi đâu cả. Đưa cho tôi một khúc cá và một miếng bánh nóng nào.
- Đấy nhé, nếu không có Jim thì cậu cũng chẳng
lên trên hang này, mà cậu ở trong đám rừng kia không có gì ăn, và chưa
biết chừng lại bị chết đuối nữa đấy. Gà con nó biết lúc nào sắp mưa cả
chim con cũng thế.
Nước sông vẫn lên cao, lên mãi đến mươi mười hai
ngày, tràn cả lên bờ. Nước ngập trên hòn đảo đến hơn một thước ở những
chỗ thấp và ở đầu hòn đảo về phía bờ Illinois. Phía ấy, đảo rộng đến mấy
dặm, nhưng về phía Missouri thì cũng đến nửa dặm vì bờ Missouri khác
nào như một bức tường lớn dựng đứng.
Ban ngày chúng tôi có thể chèo xuồng đi lại khắp
trên đảo. Trời khá lạnh. Ở trong rừng sâu thì lại càng tối, mặc dầu bên
ngoài trời vẫn nắng. Chúng tôi cho xuồng đi lách giữa những thân cây.
Có nhiều chỗ nho trĩu xuống vướng lối đi, phải quay lại đi vòng lối
khác. Những chỗ có cây mục đổ xuống có thể có thỏ; có rắn, và những con
vật khác. Khi nào đảo bị ngập nước một vài ngày thì những con vật đó
thật là hiền lành vì chúng đã bị quá đói rồi. Lúc ấy có thể chèo xuồng
đến tận nơi, thò tay ra là bắt được ngay. Nhưng có rắn và rùa thì không
được, vì chúng luồn xuống đáy nước cả. Ở một chỗ trong hang chúng tôi
cũng có nhiều giống này lắm, muốn bắt để mà nuôi cũng được vô khối.
Một đêm chúng tôi vớt được cả một đoạn bè gỗ,
toàn bằng những tấm ván gỗ thông. Rộng đến ba thước, dài bốn năm thước,
dày đến hai mươi phân. Gỗ này lát nền nhà rất chắc. Ban ngày chúng tôi
cũng thấy nhiều mảnh gỗ đã cưa rồi trôi qua đấy, nhưng chúng tôi để mặc
cho nó trôi đi; vì ban ngày chúng tôi không dám thò ra ngoài.
Một đêm khác, lúc chúng tôi ra đến đầu hòn đảo
vào lúc gần sáng, thì thấy cả một căn nhà gỗ từ phía trên, trôi đến bờ
phía Tây. Căn nhà có gác; nằm nghiêng nghiêng sắp đổ. Chúng tôi trèo
xuồng ra, nhảy lên rồi leo qua cửa sổ tầng gác mà vào. Chúng tôi mới
buộc xuồng liền vào đó và ngồi chờ cho sáng rõ.
Chiếc nhà trôi đến đầu hòn đảo thì trời bắt đầu
sáng. Từ ngoài cửa sổ, chúng tôi nhìn vào thấy có một chiếc giường, một
cái bàn, hai cái ghế cũ và trên sàn gác thì bao nhiêu thứ đồ đạc khác;
trên vách lại có mắc cả quần áo nữa. Có một vật gì nằm trên sàn ở trong
góc nhà trông như người. Jim lên tiếng gọi:
- Này! Này!
Không thấy động đậy. Tôi lại gọi nữa. Rồi Jim nói:
- Cái người này không phải ngủ, mà là chết, Cậu đứng im đây, để tôi vào xem.
Jim đi vào, cúi xuống nhìn, rồi nói:
- Một người chết. Đúng rồi, mà lại trần truồng
nữa. Hắn bị bắn vào lưng. Tôi chắc đã bị chết hai ba ngày nay rồi. Vào
đây, cậu Huck, nhưng mà đừng nhìn mặt hắn, có nhiều vết rạch, kinh lắm.
Tôi không dám nhìn. Jim vứt cái quần áo rách phủ
lên người chết. Nhưng việc gì hắn phải làm thế, tôi có muốn xem người
chết đâu. Có một đống những lá bài cũ đã bẩn quăng rải rác trên sàn nhà,
mấy chai uýt sky, vài cái mặt nạ làm bằng vải đen; còn trên vách thì
chỗ nào cũng có những chữ viết rất dốt với những hình vẽ nguệch ngoạc
bằng than củi. Có hai chiếc áo cũ bằng vải dày, một cái mũ đội đi nắng,
mấy cái đồ lót của đàn bà treo trên tường, với mấy cái quần đán ông nữa.
Chúng tôi nhặt đem bỏ cả vào xuồng để sau này có lúc sẽ dùng đến. Trên
sàn lại có một chiếc mũ của trẻ con, tôi cũng nhặt lên nốt.
Rồi có một chai sữa trong đó còn sữa, một chiếc
mũ cao su cho trẻ con bú đã rách. Chúng tôi định lấy cả chai sữa nhưng
đã vớ rồi. Có một cái hòm cũ rách nát mà một cái rương bện bằng lông đã
gãy bản lề. Cả hai đều mở toang, nhưng ở trong chẳng còn cái gì đáng
giá. Trông cái kiểu đồ đạc vứt lổng chổng thế này chúng tôi đoán rằng
người nào đó đã vội vã bỏ chạy và không bình tĩnh để có thể đem được hết
đồ đạc đi.
Chúng tôi nhặt được một cái đèn sắt cũ, một con
dao thái thịt đã mất chuôi với một con dao găm kiểu Barlow còn mới, mua ở
cửa hàng nào cũng phải đến hai hào; với một lô cây nến mỡ bò, một cái
chân nến bằng sắt; một cái cốc sắt, rồi cái chăn còn đế đắp chăn đã bị
chuột gặm, một cái bao con đựng đồ khâu có đủ cả kim chẻ sáp ong, khuy
cái cần câu chỉ nhỏ bằng ngón tay út của tôi mà mấy cai lưỡi câu thì to
sù, một cuộn da hoẵng, một cái cổ dề chó, một - cái móng ngựa, mấy lọ
thuốc chẳng có nhãn hiệu gì cả. Rồi vừa lúc chúng tôi sắp bỏ đi thì lại
thấy một cái bàn chải ngựa còn khá tốt. Jim nhặt thêm được một cái vĩ
kéo đàn bà cũ, đứt, với một cái chân gỗ. Những dây da đã đứt cả, nhưng
buộc lại cũng còn tốt, mặc dầu tôi dùng thì dài quá mà Jim thì hơi ngắn.
Rồi sau mặc dầu đã kiếm quanh nhưng không thấy đựơc cái chân bên kia
nữa.
Thế là chúng tôi vớ được một mẻ to và khuân tất
cả đi. Lúc sắp ra khỏi căn nhà thấy mình đã bị đưa trôi đi đến phần tư
dặm về phía dưới hòn đảo, mà trời lúc ấy đã sáng rõ, cho nên tôi bảo Jim
nằm xuống xuồng lấy cái chăn con đắp phủ lên người. Vì nếu Jim ngồi dậy
người ta trông thấy sẽ biết ngay là một anh da đen bỏ trốn. Tôi chèo
xuồng về phía bờ Illinois, bị trôi thêm một quãng đến nửa dặm nữa. Đến
chỗ nước lặng, tôi bơi ngược dần lên. Không sảy ra chuyện gì và cũng
chẳng có ai cả. Chúng tôi trở về nhà, an toàn.
Chương 10
Ăn bữa sáng xong xuôi,
tôi muốn nói chuyện về cái người chết trong căn nhà trôi ấy và muốn đoán thử xem vì sao mà bị giết. Nhưng Jim không thích nói chuyện ấy. Jim bảo nói chuyện sẽ gặp điều không may, hơn nữa người chết có thể hiện về. Jim nói rằng người chết mà không được chôn thì lại hay hiện về nhiều hơn là người chết được chôn cất tử tế. Điều đó nghe cũng có lý, nên tôi không nói gì nữa; nhưng tôi không thể nghĩ mãi về chuyện này, muốn biết ai đã bắn người kia và bắn để làm gì?
tôi muốn nói chuyện về cái người chết trong căn nhà trôi ấy và muốn đoán thử xem vì sao mà bị giết. Nhưng Jim không thích nói chuyện ấy. Jim bảo nói chuyện sẽ gặp điều không may, hơn nữa người chết có thể hiện về. Jim nói rằng người chết mà không được chôn thì lại hay hiện về nhiều hơn là người chết được chôn cất tử tế. Điều đó nghe cũng có lý, nên tôi không nói gì nữa; nhưng tôi không thể nghĩ mãi về chuyện này, muốn biết ai đã bắn người kia và bắn để làm gì?
Chúng tôi lục lọi trong đám quần áo mang về, tìm
được tám đồng đô la bằng bạc khâu kín vào đường viền của một cái mền áo
ngoài. Jim bảo có lẽ cái người ở trong nhà đó ăn cắp chiếc áo, vì nếu
biết có tiền thì đã không để lại. Tôi nói có lẽ họ giấu người ấy đây,
nhưng Jim vẫn không muốn nói gì về chuyện này. Tôi nói:
- Anh bảo là không may; thế hôm kia tôi tìm thấy
cái da rắn lột ở trên đỉnh gò đấy thì là anh bảo sao? Anh chả nói là sờ
vào da rắn lột sẽ gặp điều không may nhất trên đời đấy ư? Đấy, không
may đây này; chúng mình nhặt được bao nhiêu là thứ này, lại được cả tám
đô la nữa. Tôi mong ngày nào cũng gặp cái không may thế này, Jim ạ!
- Đừng tưởng, cậu ơi, đừng tưởng. Cậu chớ vội mừng. Rồi cậu sẽ thấy. Cậu nên nhớ rồi sẽ thấy, tôi bảo thật đấy.
Quả nhiên cái không may đến thật đấy. Chúng tôi
nói với nhau câu chuyện ấy vào ngày thứ ba. Thế thì đến ngày thứ sáu,
sau bữa ăn chiều, chúng tôi đang nằm chơi trên bãi cỏ ở đỉnh gò, thuốc
hút vừa hết, tôi trở về hang lấy thuốc bỗng thấy một con rắn nằm trong
đó. Tôi giết con rắn chết ngay, nhưng tôi cuộn nọ lại vứt xuống dưới
chăn ở chỗ Jim nằm. Cũng là nghịch tự nhiên vậy thôi, tưởng rằng Jim bất
ngờ thấy thế mà sợ thì mình sẽ được một mẻ cười. Nhưng đên đêm, việc
con rắn tôi đã quen khuấy đi rồi, lúc Jim vừa chui vào chăn và tôi vừa
châm đèn lên thì con rắn cái đã ở trong từ lúc nào, nó mổ ngay vào Jim.
Jim nhảy chồm lên hét, tôi soi đèn nhìn thấy con
rắn cái đang cuộn lại lấy đà và sắp văng mình một cái nữa. Tôi vớ lấy
gậy đập luôn một nhát chết, còn Jim thì quơ lấy chai rượu uýt sky của bố
tôi đổ ộc vào miệng. Jim đi chân đất, và con rắn đã mổ vào đúng góc
chân Jim. Tôi mới thấy rằng mình thật điên rồ tại sao không nhớ rằng
mình đánh chết một con rắn rồi để đó thì con rắn vợ hay chồng nó sẽ tìm
đến cuộn tròn nằm bên cạnh. Jim bảo tôi chặt đứt đầu con rắn đi vứt ra
ngoài xa, rồi lột da đem nướng một mẩu rằng như vậy sẽ chữa được độc.
Hắn lại bảo tôi dứt cái vòng ở đuôi cả hai con rắn mà buộc vào cổ tay
nữa. Jim bảo như thế sẽ không việc gì cả. Rồi lặng lẽ đi ra ngoài, đem
vứt xác hai con rắn và bụi cây thật xa; vì tôi không nghịch như vậy có
hơn không.
Jim nốc rượu, lại nốc rượu, thỉnh thoảng vươn
cổ, lắc lư cái đầu và rú lên; nhưng sau mỗi lần trở lại bình thường rồi
thị lại nốc rượu. Chân Jim sưng vù lên rất nhanh, rồi đến bắp chân nữa.
Dần dân rượu ngấm và tôi nghĩ Jim sẽ không vịêc gì. Nhưng tôi lại còn
nghĩ thà bị rắn cắn còn hơn là nốc rượu uýt sky kia của bố tôi.
Jim nằm liệt bốn ngày đêm. Rồi những chỗ sưng
biến mất và Jim đi lại được. Tôi nghĩ bụng nhất định từ nay sẽ không mó
vào cái da rắn lột nữa, vì vậy đã thấy nó tại hại như thế nào rồi. Jim
bảo rằng hắn mong từ lần sau tôi sẽ tin lời hắn. Rồi hắn nhắc lại là sờ
vào cái da rắn lọt thì hết sức không may, mà có lẽ mình chưa biết rõ sẽ
tai hại đến như thế nào. Jim nói thà là phải liếc nhìn mặt trăng lưỡi
liềm qua phía vai bên trái đến một nghìn lần còn hơn là phải cầm trong
tay cái da rắn lột. Tự tôi cũng thấy thế, vì tôi cũng hiểu nhìn mặt
trăng lưỡi liềm qua phía bên trái của mình là một trong những điều không
cẩn thận và dại dột nhất mà không ai làm bao giờ. Ông cụ Huck Bunker đã
có một lần làm như vậy rồi cứ khoe mãi. Thế mà chỉ mới chưa được hai
mươi năm đã có chuyện ông cụ say rượu và ngã từ trên chòi cao xuống đất,
nằm sóng sượt như một thanh gỗ để chèn gốc cây, có thể nói như vậy; rồi
họ phải khiêng ông cụ qua cửa sổ để cho quan tài mà đem chốn. Nghe họ
kể lại như vậy, tôi chưa trông thấy tận mất. Bố tôi cũng nói thế. Dù sao
cũng là do ông cụ đã dám nhìn mặt trăng cái kiểu như thế. Thật là điên
dại.
Ngày ngày trôi qua, nước sông đã rút xuống nằm
giữa hai bờ rồi. Việc đầu tiền chúng tôi làm mắc mối vào một lưỡi câu
to, mồi bằng con thỏ lột da. Thả mồi xuống, bắt được một con cá he lớn
bằng người, dài gần hai thước nặng gần một trăm cân. Chúng tôi không kéo
nổi con cá lên, mà chả biết chừng nó có thể lôi chúng tôi đến tận
Illinois ấy. Đành cứ để mặc đấy mà nhìn nó quẫy đến lúc nó chết. Chúng
tôi moi được một chiếc khung đồng trong ruột con cá, với một quả bóng
ra, trong đó có một cuộn dây lõi. Jim bảo là cái ấy đã có sẵn ở trong
quả bóng từ trước, họ đem bọc ra ngoài làm thành quả bóng. Tôi chắc đây
là con cá to nhất chưa bao giờ thấy con cá nào to hơn thế. Nếu là ở
trong làng thì đã bán được nhiều tiền lắm. Với con cá như thế này, họ
chặt ra làm nhiều khúc nhỏ từng nửa cân một đem ra chợ bán; ai cũng muốn
mua một vài miếng. thịt nó trắng như tuyết, đem rán lên rất thơm.
Sang hôm sau, tôi bảo Jim rằng mình thấy buồn và
mỏi mệt, nên muốn tìm cách nào hoạt động lên một chút. Tôi định ra phía
ngoài sông xem có cái gì ở đó không. Jim cũng đồng ý như thế, nhưng bảo
tôi chờ đến tối hãy đi và phải để ý nhìn cẩn thận. Hắn nghĩ một lúc rồi
nói tôi có nên bỏ mấy cái quần áo cũ đang mặc đi và cải trang làm cô
gái chăng? ý kiến đó nghe cũng hay. Thế là chúng tôi đêm một cái váy vải
cắt ngắn đi, xắn ống quần lên đến đầu gối rồi mặc váy vào. Jim lấy cái
lưỡi câu túm đằng sau váy lên trông rất vừa mắt. Tôi đội cái mũ rộng
vành lên, buộc dây mũ xuống cằm. Nếu như có người nào muốn nhìn tận nơi
và xem mặt tôi thì cũng phải cúi xuống như nhìn vào ống khói bếp lò. Jim
bảo là chẳng ai nhận được ra tôi đâu, dù ngay giữa ban ngày cũng vậy,
khó mà nhận ra lắm. Suốt ngày hôm đó tôi tập đi lại cho quen, dần dần
tôi cũng thấy mình khá thoải mái trong cái bộ đồ ấy; nhưng Jim bảo tôi
đi chưa giống cái dáng điệu người con gái; và bảo tôi phải thôi không
được kéo váy lên để đút tay vào túi quần nữa. Tôi theo lời, bắt chước
được đúng hơn.
Trời vừa tối thì tôi đi xuồng lên phía bờ Illinois.
Tôi đi quá lên phía tỉnh, ở dưới bến đò một
quãng, dòng nước đưa xuồng tôi đến tận cuối tỉnh. Tôi được xuồng bước
lên, đi dọc theo chân đê. Có ánh sáng ở trong một căn lều nhỏ hình như
đã lâu không ai ở. Tôi lấy làm lạ không biết ai đã đến ở đây rồi. Tôi
lần đi lên, ghé mắt nhìn qua khe cửa sổ. Trong lều, một người đàn bà
chặc bốn mươi tuổi đang ngồi khẩu dưới ngọn nến đặt trên chiếc bàn bằng
gỗ thông. Tôi không nhận ra mặt; bà ta là một người là ở đây mới đến, vì
trong tỉnh này không có ai là tôi không biết mặt. Thế này thì may quá;
vì lúc nãy tôi đang còn sợ lo rằng đến đây nhỡ có ai có thể nhận ra
tiếng nói của tôi và biết được tôi chăng. Nhưng nếu người đàn bà kia đã
đến cái tỉnh nhỏ này được hai ngày rồi thì bà ta có thể nói được cho tôi
nghe tất cả những điều tôi muốn biết.
Nghĩ vậy, tôi gõ cửa, và tự nhắc lại cho tôi khỏi quen rằng mình đang đóng giả một cô con gái.
Chương 11 :
Người đàn bà nói : - Cứ vào.
Tôi bước vào. Bà ta nói:
- Ngồi xuống đây.
Tôi ngồi xuống. Bà ta nhìn khắp người tôi bằng một đôi mắt nhỏ nhưng rất sáng, rồi hỏi:
- Tên cháu là gì?
- Sara Willim
- Cháu ở đâu? Có gần đây không?
- Không, cháu ở Hookerville, cách đây bảy dặm về phía dưới kia. Cháu đi bộ suốt từ đó lên đấy, bây giờ đã mệt rồi.
- Chắc, cháu cũng đói rồi nhỉ, Để tôi kiếm cái gì cho cháu ăn nhé.
- Không, cháu không đói đâu. Lúc nãy cháu đã
dừng lại ở một trại cách đây hai dặm, lúc ấy thì đói nhưng bây giờ thì
không đói nữa. Vì vậy nên cháu mới đi chặm. Mẹ cháu ốm nặng, không có
tiền mà cũng chẳng còn gì. Cháu đi tìm để báo tin cho bác cháu là Abner
Moore. Mẹ cháu bảo là bác cháu ở phía đầu tỉnh dưới kia. Cháu chưa đến
nơi này bao giờ. Bà có biết bác cháu không?
- Không, tôi chưa biết ai cả. Tôi mới đến đây
chưa được hai tuần. Từ chỗ này đến cuối tỉnh cũng nhiều đường đất lắm
đấy. Cháu hãy nghỉ lại đêm nay ở đây. Hãy bỏ mũ ra đã.
- Không ạ, tôi đáp. Không, cháu chỉ nghỉ đây một lát rồi lại đi ngay thôi, cháu chả sợ đêm tối đâu.
Bà ta bảo là sẽ không để cho tôi đi một mình
đâu. Chồng bà ta sắp về, khoảng độ một giờ rưỡi nữa thôi, và bà ta sẽ
bảo ông chồng cùng đi với tôi. Rồi bà ta nói luôn về chuyện chồng, cùng
những người quen thuộc ở đầu sông, cuối sông, về những chuyện trước kia ở
nơi cũ sung sướng bao nhiêu, rồi vì không biết mà lại đến ở cái tỉnh
này thật là dài vô cùng, đáng lẽ cứ ở một mình thì hơn - và vân vân, vân
vân... Đến nỗi tôi đâm sợ vì mình đã dại dột mò vào đây để hỏi ba ta về
những chuyện ở tỉnh. Nhưng rồi lát sau bà ta nói đến chuyện bố tôi và
vụ giết người. Tôi muốn cứ để cho bà ta nói mà nghe. Nào là chuyện tôi
với thằng Tom Sawyer kiếm được mười hai nghìn đô la (bà ta nói là hai
mươi nghìn), nào là tất cả mọi chuyện về bố tôi, bảo bố tôi là người rất
ngang ngạnh, và tôi cũng là người rất ngang ngạnh. Rồi cuối cùng bà ta
nói đến chỗ tôi bị giết. Tôi hỏi:
- Ai giết thế? Cháu ở Hookerville nghe người ta nói nhiều về chuyện ấy, nhưng cháu không biết ai là người giết Huck Finn.
- Tôi nghĩ dân ở đây cũng có nhiều cái đặc biệt thật đấy. Chính tôi cũng muốn biết ai là người đã giết Huck Finn.
- Không! Thật thế ư bà?
- Lúc đầu thì hầu hết ai cũng nghĩ thế. Nhưng
rồi đến buổi chiều thì người ta lại thay đổi ý kiến và bảo rằng đó là do
một tên da đen đã bỏ trốn tên là Jim giết Huck Finn.
ơ không - hắn...
Tôi im bặt ngay. Tôi nghĩ rằng tốt hơn là cứ ngồi im. Bà ta nói tiếp, không để ý đến câu tôi vừa nói chen vào.
- Tên da đen bỏ trốn đúng vào cái đêm Huck Finn
bị giết. Họ treo giải thưởng để bắt nó: ba trăm đô la. Rồi cũng treo
giải thưởng để bắt cả bố thằng Finn nữa: hai trăm đô la. Cháu biết
không, lão ta ra tỉnh vào buổi sáng hôm sau khi xảy ra vụ giết người;
lão ta kể lại chuyện ấy rồi lại đi với họ trên chiếc thuyền dò tìm xác
chết. Thế rồi ngay sau đó, lão ta cũng bỏ trốn đi nốt. Chiều tối họ định
đem lão ra xử thì lão ta cũng trốn mất rồi. Rồi hôm sau lại thấy tên da
đen bỏ trốn đi nữa. Họ bảo là hồi mười giờ đêm hôm xảy ra vụ giết người
thì trông thấy nó. Thế là họ buộc tội cho nó, cháu có biết không. Sau
khi họ đã chắc chắn như thế rồi thì hôm sau lại thấy lão Finn mò về,
khóc vang lên, đòi lão chánh Thatcher phải bỏ tiền đi lùng bắt tên da
đen ở khắp vùng Illinois. Lão chánh đưa ra một ít tiền, đến tối, bố
thằng Finn lại say rượu và quanh quẩn đến tận nửa đêm với hai người lạ
mặt rất xấu xí, rồi cùng với hai người này ra đi. Từ đó đến nay không
thấy lão ta quay về nữa, mà người ta cũng chẳng đi tìm lão làm gì. Kể
như chuyện này đã qua rồi; nhưng bây giờ có người cho rằng chính lão
Finn đã giết con rồi bố trí những cái như thế để mọi người tưởng rằng có
kẻ cướp gây ra việc này; để rồi lão ta được lấy số tiền của thằng Huck
mà chẳng lo gì phải bị ai kiện cáo nữa. Họ bảo rằng lão ta làm như thế
không tốt. ồ, mà tôi nghĩ rằng lão ta khôn ngoan lắm. Nếu như trong vòng
một năm nữa lão ta không trở về thì thế là yên chuyện. Chẳng có chứng
cớ gì buộc lão ta được, cháu hiểu không. Thế là lúc đó mọi chuyện đều ổn
cả, và lão ta được đàng hoàng tiêu tiền của thằng Huck dễ như chơi.
- Vâng, cháu cũng nghĩ như thế bà ạ. Cháu thấy
cái đó, chả có gì khó. Thế bây giờ mọi người đã thôi không ai nghĩ rằng
anh da đen làm việc đó hay sao?
- ồ không, không phải mọi người đâu. Nhiều người
vẫn cho là tên da đen làm chuyện ấy. Nhưng rồi đây họ sẽ bắt được tên
da đen, và có lẽ họ vẫn còn nghi cho nó lắm.
- Sao, họ vẫn đang tìm bắt hắn ư?
- ồ hay, cháu thật ngây thơ nhỉ. Có phải ngày
nào người ta cũng dễ dàng kiếm được ba trăm đô la đâu. Có người cho rằng
tên da đen trốn không xa đây lắm. Tôi cũng nghĩ thế, nhưng tôi chưa nói
với ai. Cách đây vài bữa, tôi nói chuyện với một đôi vợ chồng già ở căn
nhà gỗ bên hàng xóm, họ bảo rằng ít có người nào đến hòn đảo tít dưới
kia, gọi là đảo Jackson ấy. Tôi hỏi thế có ai ở trên đảo ấy không? Họ
nói: không, chẳng có ai ở đó cả. Tôi không nói gì nữa, nhưng trong đầu
tôi vẫn suy nghĩ. Tôi ở đây cũng gần nên tôi chắc chắn là đã có trông
thấy khói ở phía đó bốc lên, ở phía đầu hòn đảo ấy, trước đây một vài
ngày. Tôi tự hỏi có lẽ tên da đen ấy trốn ở hòn đảo chăng. Tôi bảo dù
sao cũng nên chịu khó đi đến hòn đảo ấy mà lùng một phen xem sao. Từ hôm
ấy, tôi lại không thấy khói lên nữa, nên tôi nghĩ nếu có tên da đen
thật thì nó đã bỏ đi nơi khác rồi. Nhưng chồng tôi sẽ đi lên đó xem, đi
cùng với một người nữa. Ông ấy đi ngược lên đầu sông, hôm nay mới trở
về. Cách đây hai giờ ông ấy vừa bước về nhà thì tôi đã nói chuyện ấy
ngay.
Lúc này tôi thật bối rối vô cùng, không thể ngồi
im được nữa. Tôi không cử động hai bàn tay một tí mới được, tôi nhặt
chiếc kim khâu để trên bàn và xâu chỉ. Tay tôi run lẩy bẩy, không xâu
được. Người đàn bà ngừng nói trông lên, và nhìn tôi với một vẻ hơi là
lạ, rồi mỉm cười. Tôi bỏ kim chỉ xuống làm ra vẻ như chính mình cũng
đang quan tâm đến chuyện ấy, tôi nói:
- Ba trăm đô la, món tiền ấy to lắm. Cháu cũng
mong cho mẹ cháu có được số tiền như thế. Thế chồng bà đêm nay có đi hòn
đảo ấy không?
- ồ, có chứ. Ông ấy đang lên phố với các người
tôi vừa nói ban nãy để kiếm một cái xuồng và để xem có mượn được khẩu
súng nữa không. Khoảng quá nửa đêm là các ông ấy sẽ đi đấy.
- Sao không đợi để đến ban ngày có nhìn rõ hơn không?
- Phải, nhưng ban ngày tên da đen cũng lại nhìn
mình dễ hơn. Qua nửa đêm tên da đen có thể ngủ say, như vậy các ông có
thể đi luồn qua rừng và nếu như nó có dốt lửa trong đêm tối thì có thể
dễ tìm hơn.
- Không chắc chắn như vậy đâu.
Người đàn bà nhìn tôi với vẻ nhóc mách, làm cho tôi càng ngồi chẳng yên. Ba ta hỏi:
- Lúc nãy, cháu nói tên là gì nhỉ?
- M - Mary William
Quái, hình như lúc nãy không phải tôi nói là
Mary hay sao ấy. Nghĩ thế nhưng tôi không nhìn lên. Hình như lũc nãy tôi
nói là Sara thì phải. Tôi cảm thấy như đang bị dồn vào góc tường, đâm
ra sợ không dám ngước lên nhìn nữa. Bà ta càng im lặng, tôi càng thấy
bối rối. Nhưng rồi bà ta hỏi:
- Tôi tưởng khi nãy mới vào cháu nói là Sara cơ mà?
- Vâng, đúng thế đấy ạ. Sara Mary William, Sara là tên đầu của cháu. Có người gọi là Sara, có người gọi là Mary.
- à ra thế đấy?
Tôi đã thấy dễ thở hơn rồi. Nhưng tôi mong dù sao cũng không phải ngồi đó nữa.
Tôi vẫn chưa nhìn lên được.
Nhưng rồi bà ta lại bắt sang chuyện nào là đời
sống vất vả, nghèo khổ như thế nào, rồi nào là ở đây chuột chạy ra chạy
vào tự do là chúng nó làm chủ cái nhà này ấy, vân vân.... Lúc đó tôi
cũng dễ chịu hơn, Bà ta nói liền về chuyện chuột. Cứ chốc chốc lại thấy
một con chuột thò mõm ra khỏi cái lỗ ở góc nhà. Bà ta bảo là phải luôn
luôn cầm một cái gì trong tay để lúc nào ở nhà một mình thì ném chuột.
Không thì lũ chuột chả để cho ba ra ngồi yên. Bà ta đưa cho tôi xem một
thỏi chì đã vặn xoắn lại như cái nút, và bảo vẫn dùng cái đó để ném
chuột rẩt tốt. Nhưng mới đây vài ngày bà ta bị sái tay vẫn để ý rình,
rồi bất thình lình ném băng một cái, nhưng còn cách con chuột rất xa. Bà
ta kêu ối một tiếng; thế là lại đau tay. Rồi bà ta bảo tôi ném thử con
sau. Tôi muốn bỏ ra đi trước khi chồng bà ta về, nhưng rồi thế nào lại
không đi được. Tôi vớ lấy thỏi chì, chờ lúc có một con chuột nữa thò mõm
ra là tôi ném liều. Thỏi chì trúng con chuột nằm lăn ra đó, trúng một
con chuột ốm. Bà ta bảo giỏi thật, và tưởng tôi sẽ ném con sau nữa. Bà
ta đi nhặt thỏi chì lại, rồi đem đến một cuộn sợi và bảo tôi gỡ giúp.
Tôi chìa hai tay ra, bà ta mắc cuộn sợi vào tay tôi và lại tiếp tục nói
chuyện về vợ chồng bà ta nữa. Nhưng rồi bà ta im bật rồi nói:
- Để ý nhìn chuột nhé. Cháu cứ cầm sẵn thỏi chì trong tay đi.
Bà ta thả thỏi chì vào vạt váy của tôi vừa lúc
tôi khép hai chân lại để giữ lấy thỏi chì. Bà ta lại nói chuyện. Nhưng
chỉ được một lúc. Rồi bà ta nhắc cuốn sợi ra nhìn thẳng vào mặt tôi vẻ
vui đùa hỏi:
- Này, nói thật đi, tên cháu là gì?
- Bà nói sao?
- Tên thật của cô là gì? Là Bin, là Tom hãy Bob? hay là gì?
Tôi tưởng mình run lên một chiếc lá, và thật cũng không biết làm thế nào. Nhưng tôi trả lời:
- Xin bà đừng trêu ghẹo một cô gái khổ sở như cháu. Nếu cháu ngồi đây mà có làm phiền bà thì cháu xin...
- Không, không, cháu đừng đi đâu. Hãy cứ ngồi
yên đây. Tôi không làm hại gì cháu đâu, và cũng không đi nói cho ai biết
về cháu đâu, cháu cứ tin ở tôi, cháu nói thật với tôi đi. Tôi sẽ giữ
kín cho cháu nữa, tôi sẽ giúp đỡ cháu. Tôi sẽ bảo cả chồng tôi giữ kín
cho cháu nữa, nếu cháu muốn. Cháu hiểu không, cháu chỉ là một con ngựa
non khờ dại bỏ bày mà chạy đi thôi, chẳng có gì khác. Mà có sao đâu cơ
chứ, Cháu bi đối đãi khổ sở rồi cháu quyết tâm là phải trốn đi chứ gì.
Khổ, tội nghiệp quá, tôi sẽ không nói với ai về cháu đâu. Bây giờ thì
hãy nói hết cả cho tôi nghe đi, nào cậu... con trai ngoan ngoãn.
Tôi nghĩ bụng cứ đóng kịch mãi thì cũng chẳng ăn
thua gì, tôi sẽ thú thật với bà ta và nói hết cả ra, nhưng bà ta phải
không nuốt lời hứa mới được. Thế rồi tôi nói với bà ta rằng bố mẹ tôi đã
chết cả, rồi pháp luật đã trói buộc tôi phải ở với một người chủ điền
vừa già vừa độc ác ở vùng cách xa con sống đến ba mươi dặm. Người ta cư
xử với tôi tệ quá nên không thể ở đấy được nữa. Nhân lúc lão chủ điền
kia vắng nhà vài ngày, tôi mới thừa cơ bỏ trốn và ăn cắp mấy cái quần áo
của con gái lão ta, đi ròng rã ba đêm nay bây giờ tôi mới tới đây. Đêm
thì đi, ngày thì nấp vào một nơi ngủ. Cái bọc bánh với thịt mang theo
chỉ đủ ăn dọc đường. Tôi lại nói là tôi tin rằng ông bác tôi là Abner
Moore sẽ nuôi tôi, vì vậy tôi mới lần mò đến vùng Goshen này.
- Goshen đâu, cậu bé ơi! Đây không phải là
Goshen, đây là Peterburg. Goshen ở mãi mười dặm đi ngược lên trên sông
nữa cơ mà. Ai bảo với cậu đây là Goshen?
- Vậy ư? Thế mà có một người cháu gặp lúc còn tờ
mờ sáng hôm nay, lúc cháu định rẽ vào rừng để ngủ, bảo cháu đến ngã ba
thì rẽ bên phải, rồi đi năm dặm nữa thì đến Goshen.
- Chắc hắn ta say rượu. Hắn nói thế là hoàn toàn sai rồi.
- Vâng, trông hắn ta đúng là say rượu. Nhưng
thôi thì bây giờ làm thế nào được. Cháu lại phải đi quãng đường nữa.
Cháu sẽ tìm đến Goshen trước khi trời sáng.
- Khoan đã, hãy chờ một lát, để tôi lấy cái gì cho cậu ăn qua loa đã. Hẳn là cậu phải đói rồi.
Bà ta đem cho tôi ăn rồi lại hỏi:
- Này cậu, khi một con bò đang nằm dưới đất mà
nó đứng đằng nào lên trước? Trả lời ngay, không được nghĩ. Đằng nào đứng
lên trước?
- Đằng đuôi
- Thế rêu mọc trên thân cây thì mọc ở phía nào?
- Phía bắc
- Nếu mười lăm con bò ăn cỏ trên đồi thì bao nhiêu con châu đầu về một phía?
- Cả mười lăm con
- Được, như thế là tôi biết cậu đã ở nông thôn. Tôi tưởng cậu lại định bịp tôi nữa. Thế bây giờ tên thật của cậu là gì?
- George Peter bà ạ.
- Được, cậu nhớ đây nhé, George. Trước khi đi
cậu hãy nhớ nói với tôi rằng cậu là Alexander rồi đến ngoài đường thì
nói rằng tôi bắt gặp được cậu thì cậu chính là tên George Alexander. Mà
đừng có mặc cái đồ vải cũ ấy đi đến chỗ nào có đàn bà. Cậu đóng giả cô
gái nghèo thì được đấy nhưng đàn ông người ta vẫn để ý. Thật tội nghiệp
cho cậu, lúc nào xỏ chỉ vào lỗ kim thì đừng có giữ cho im cái kim rồi
hãy xỏ chỉ vào lỗ kim; đàn bà bao giờ người ta cũng làm thế, còn đàn ông
thì khác. Rồi khi nào ném chuột hay ném vật gì khác thì hãy nhớ kiễng
chân lên một tí, rồi giơ tay lên qua đầu làm ra vẻ hết sức ngựơng nghịu,
và ném cách xa con chuột chừng một vài thước. Phải ném thế nào trông nó
có vẻ cứng nhắc suốt từ bả vai xuống, y như có một cái chốt ở vai mà
xoay cánh tay đi, như vậy nó mới ra con gái, chứ không phải nếm bằng cổ
tay hay khuỷu tay và giang rộng cánh tay sang một phía như con trai. Rồi
lại còn nhớ rằng khi một cô gái cũng nhích hai đâu gối ra chứ không kẹp
vào nhau như cậu làm khi nãy để giữ thỏi chì. Lạ gì đâu, ngay từ cậu xỏ
chỉ vào lỗ kim, tôi đã biết rằng cậu là con trai, cho nên tôi mới thử
lại cái đó để biết chắc chắn. Thôi, bây giờ đi tìm bác cậu đi, Sara Mary
William Georgo Alexander Peter. Nếu có gặp chuyện gì lôi thôi thì nhắn
về cho tôi, tức là bà Judith Loftus. Tôi có thể làm gì đựơc tôi sẽ làm
để giúp đỡ cậu. Cứ theo con đường ven sông, và lần sau có đi bộ xa thế
thì phải đi giầy đi tất vào, Đường ven sông có nhiều sỏi đá; tôi tính
đến được Goshen thì chân cậu sẽ đau lắm đấy.
Tôi đi ngược lên phía trên sông độ dăm chục
thước rồi quay lộn lại, vụt chạy đến chỗ để xuồng, ở dưới căn nhà đó một
quãng. Tôi nhảy vào xuồng, vội vã chèo đi. Tôi đi ngược lên khá xa, đến
tận đầu hòn đảo, rồi tạt ngang. Tôi cởi mở chiếc mũ ra, vì bây giờ cũng
chẳng cần phải cải trang làm gì nữa. Khi nãy đi đến giữa chừng thấy
tiếng chuông vang đi, nhoà trên mặt nước nhưng nghe còn rõ, đã mười một
giờ. Đến đầu hòn đảo, mặc dầu gió đang thổi mạnh tôi cũng không cần lánh
xuống nữa mà cứ nhằm đâm thẳng vào chỗ có khúc gỗ mà tôi đã nấp hồi mới
tới và đã từng đốt lửa ở một nơi cao ráo. Tôi chèo riết đến chỗ chúng
tôi ở, hơn một dặm về phía dưới. Rồi lên bờ, nhảy vọt qua khúc gỗ, trèo
lên đỉnh gò vào chạy xộc vào hang. Jim nằm đó, đang ngủ say trên mặt
đất. Tôi lay hắn dạy và nói:
- Dậy đi, chết rồi Jim ơi. Không được chậm trễ một phút nào. Họ đang lùng bắt chúng mình đấy!
Jim chẳng hỏi han gì cũng chẳng nói năng nhưng
cứ nhìn cái điệu hắn hấp tấp khoảng nửa giờ sau đó cũng biết hắn đang sợ
lắm. Lúc chiếc bè đã sẵn sàng để ra khỏi cái bụi liễu, nơi chúng tôi
vẫn giấu ở đó. Việc đầu tiên là chúng tôi tắt rụi đống lửa trong hang,
và sau đó cũng không thắp một cây nến nào lên cả.
Tôi lấy xuồng chèo ra khỏi bờ một quãng để thăm
dò trước. Nhưng giá có một cái thuyền nào để ngay đó cũng không thấy gì
được, vì trời tối đen, chỉ có ánh sáng sao, chẳng nhìn thầy gì. Rồi
chúng tôi đẩy bè ra, cho bè lướt xuống dòng sông, trong bóng tối đi qua
phía đầu đằng kia hòn đảo, im lặng như chết không ai hé miệng câu nào.
Chương 12
Có lẽ cũng phải đến gần 1 h đêm thì chúng
tôi mới tới phía dưới hòn đảo. Mà hình như bè của chúng tôi đi chậm vô
cùng. Nếu như có chiếc thuyền hay tàu nào đi tới thì chúng tôi đến phải
sang xuồng mà bỏ chạy lên bờ Illinois ngay. Nhưng thật may, chẳng có
thuyền bè nào đi tới, và chúng tôi cũng không nghĩ đến bỏ khẩu súng vào
trong xuồng, hoặc cần câu hay đồ ăn gì cả. Lúc đó chúng tội vội quá,
cuống lên, không nghĩ thấu hết mọi thứ. Vả lại tất cả cái gì cũng bỏ hết
lên bè thì không lợi.
Nếu như hai người kia họ tìm đến hòn đảo thì tôi
chắc thế nào thì cũng thấy chỗ lửa trại của chúng tôi sẽ rình ở đó suốt
đêm chờ cho Jim đến. Dù sao họ cũng còn xa hơn chỗ chúng tôi, và nếu
như đám lửa của chúng tôi đánh lừa được họ thì đó cũng không phải lỗi
tại tôi. Nhưng càng chơi xỏ được họ đến đâu thì cứ chơi.
Khi tia sáng đầu tiên của ban ngày ló ra, chúng
tôi buộc bè vào một cái khe ở gần bãi lớn phía Illinois; lấy rìu chặt
một ít cành cây bông phủ lên để làm ra vẻ như ở ven sông này từ lâu đã
có một chỗ lõm vào như vậy. Phía đầu là một cái bờ cát. cây bông mọc râm
rạp tua tủa như răng bừa.
Bên phía bờ Illinois là núi. Còn bên bờ Illinois
thì toàn là cây to. Quãng sông này có con lạch chảy về phía bờ
Illinois, nên chúng tôi không sợ có ai đi qua đây. Chúng tôi nằm đó suốt
ngày, nhìn theo những bè mảng với tàu thuỷ đi xuống phía bờ Illinois,
cả những chiếc tàu đi ngược lên chạy ầm ầm giữa sông. Tôi kể lại cho Jim
nghe cái lúc tôi ngồi nói chuyện huyên thuyên với cái người đàn bà ấy,
và Jim bảo tôi đó thật là một người đàn bà quái lạ; nếu như chính bà ta
đã lùng bắt chúng tôi thì chắc sẽ chẳng tội gì ngồi rình ở đống lửa trại
đâu, mà trái lại, thưa ngài, bà ta sẽ dắt cho đi lùng bắt đấy. Tôi bảo
thế thì tại sao bà ta không xui chồng đem chó đi? Jim nói rằng hắn đoán
chắc là bà ta đã nghĩ đến chuyện ấy khi người chồng sắp sửa đi, và chắc
là ông kia lên tỉnh kiếm con chó nên mới mất nhiều thì giờ như vậy. Có
thế thì mình mới chạy được đến chỗ này xa làng xóm đến mười sáu mười bảy
dặm chứ, nếu không thì mình sẽ còn được ở lại cái tỉnh cũ kỹ ấy. Tôi
nghĩ chừng nào mà họ chưa tóm được mình thì cũng chẳng cần biết nguyên
nhân tại sao họ chưa bắt được mình.
Trời bắt đầu xẩm tối, thì chúng tôi thò đầu ra
khỏi mớ cánh bông, nhìn trước nhìn sau, không thấy gì. Rồi Jim nhắc mấy
mảnh ván trên bè lên, dựng thành một cái lều để có thể chui vào đó khi
mưa nắng và để che đồ đạc cho khỏi ướt. Jim lại làm thêm ở bên ngoài một
cái nền gỗ cao khoảng ba mươi phân để mỗi khi gặp tàu thuỷ có sóng to
vỗ vào thì khỏi bắn ướt lên đồ đạc. ở giữa lều chúng tôi làm một cái chỗ
trũng xuống đổ đất vào đấy, chừng một tấc, quây gỗ chung quanh để làm
bếp lửa, gặp khi trời mưa rét, và cũng để ở trong lều nữa cho người ta
khỏi trông thấy. Chúng tôi dựng một chiếc gậy ngắn ở đầu gậy có chặc để
treo cái đèn cũ lên khi nào gặp tàu thuỷ đi xuôi xuống, để tránh khỏi bị
đâm vào nhau. Còn đối với những thuyền bè đi ngược sông thì chúng tôi
không phải thắp đèn làm gì, nếu như không gặp trường hợp gọi là đi tắt
ngang; vì nước sông ở trên mặt thì chảy khá mạnh, dưới lòng sông thì
nhiều soi ngầm, cho nên thuyền bè đi ngược không phải lúc nào họ cũng đi
giữa dòng mà hay chọn chỗ nào nước ít chảy xiết hơn mới đi.
Trong đêm thứ hai, chúng tôi đi chừng bảy tám
tiếng đồng hồ, trên dòng nước chảy nhanh mỗi giờ đến bốn dặm. Chúng tôi
bắt cá, tán chuyện, thỉnh thoảng lại nhẩy xuống tắm một tí cho khỏi buồn
ngủ. Đi trên sông lớn và lặng lẽ này nghe nó nghiêm trang làm sao ấy.
Chúng tôi nằm ngửa nhìn sao trên trời không lúc nào dám nghĩ đến nói to,
cũng không mấy lúc cười. Chỉ ngậm miệng phì phào mấy tiếng. Nói chung
là tiết trời rất đẹp, đêm đó đêm sau, rồi đêm sau nữa chẳng xảy ra
chuyện gì.
Đêm nào chúng tôi cũng qua những nơi có thị
trấn, có khi thị trấn nằm ở lưng đồi xa, chỉ nhìn thấy một vệt ánh sáng
dài mà không rõ nhà cửa. Đêm thứ năm, chúng tôi qua St Louis, trông như
cả một thế giới sáng rực. ở Peterburg, họ vẫn bảo là St louis có đến hai
ba vạn dân, nhưng tôi không tin mãi đến lúc qua đấy vào hai giờ đêm
nhìn thấy ánh sáng rực rỡ như vậy tôi mới cho là thật. Phía trong thành
phố, chẳng có một tiếng động nào, mọi người đã đi ngủ cả.
Đêm nào cũng thế tôi thường vẫn lên bờ vào lúc
mười giờ đêm, đến một cái làng nhỏ mua mươi mười lăm xu bánh hay thịt
hoặc thứ gì đó để ăn, có khi tôi mò bắt và xách về một con gà nào không
chịu nằm chuồng cẩn thần. Bố tôi trước kia vẫn thường nói là lúc nào có
dịp bắt gà thì cứ bắt, vì như thế mình không bao giờ quên một việc nghĩa
cử cả. Chính mắt tôi chưa từng bao giờ thấy bố tôi không cần gà cả,
nhưng nói như vậy thì thấy ông ấy vẫn nói luôn.
Có những lúc trời tang tảng sáng, tôi luồn vào
cánh đồng mượn tạm quả dưa hay quả bí, hoặc ngô khoai gì đó. Bố tôi
thường vẫn bảo là mựơn của ai cái gì mà mình vẫn nghĩ rằng sau này sẽ có
lúc trả người ta thì điều đó không phải là xấu. Nhưng bà goá thì lại
bảo rằng đấy chẳng phải gì khác ngoài cái danh từ mềm mỏng để thay cho
chữ ăn cắp mà thôi, và những người đứng đắn chẳng có ai làm thế. Jim thì
cho rằng bà goá nói cũng có phần đúng, và bố tôi cũng có phần đúng. Như
vậy thì tốt hơn là ta lấy vài ba thứ gì đi rồi bảo họ rằng lần sau thôi
không lấy nữa. Và Jim cho rằng như thế thì về sau có mượn những cái
khác cũng không sao. Thế là chúng tôi nói chuyện nên lấy dưa, hay bí,
hay những thứ khác. Nhưng rồi đến sáng thì chúng tôi giải quyết việc đó
ổn thỏa, và kết luận rằng sẽ lấy táo dại với lê dại. Trước đó, chúng tôi
cứ băn khoăn mãi là mình làm điều không phải, nhưng bây giờ thì yên tâm
rồi. Riêng tôi cũng thấy hài lòng vì đã giải quyết được như vậy, một
mặt vì táo dại ăn chẳng ra gì, còn lê dại thì có chín cũng phải vài ba
tháng nữa.
Thỉnh thoảng chúng tôi bắn được một con lẽ đi mò
lúc còn sáng sớm hay vào lúc đêm tối nó chưa chịu đi kiếm chỗ ngủ.
Những lúc đó thì đời sống của chúng tôi lại xôm lắm.
Đến thứ năm, ở mạn dưới St Louis, chúng tôi gặp
một cơn giông lớn vào quãng quá nửa đêm, sấm chớp ầm ầm, mưa đổ xuống
rào rào. Chúng tôi chui vào lều và để mặc cho bè trôi. Khi chớp loé lên,
trông thấy cả một dải sông lớn và hai bên bờ là những mỏm núi đá cao
ngất. Bỗng tôi gọi: Jim ơi, trông kìa. Đó lá một chiếc tàu thuỷ đâm phải
mỏm đá. Chúng tôi đưa thẳng bè đến nơi. Chớp sáng lên nhìn rất rõ.
Chiếc tàu nghiêng hẳn đi, một phần đằng mũi tàu đã chui xuống nước. Mỗi
lần chớp lên có thể trông thấy từng cái cột nhỏ trông sáng bóng, có
chiếc ghế ở trong buồng lái với một cái mũ treo ở đằng sau ghế.
Trong đêm giông tố như thế này mà đi xa nhà, mọi
vật đều có vẻ như bí mật quá, tôi nghĩ bất cứ đứa nào khác cũng đều
phải có cảm giác như tôi khi nhìn thấy chiếc tàu đắm nằm đó buồn như
chết giữa dòng sông ấy. Tôi muốn trèo lên chiếc tàu đắm này để coi chung
quanh một chút xem có gì không. Tôi nói.
- Ta trèo lên đi Jim
Lúc đầu Jim im lặng không nói, sau mới đáp:
- Tôi chả trèo lên cái tàu đắm ấy làm gì. Chúng
mình đã làm tội rồi thì tốt hơn đừng làm tội thêm nữa, như trong sách
nói ấy. Nhỡ có người canh gác ở trên tàu đó thì sao?
Tôi nói:
- Canh gì, có canh cái con khỉ, chẳng canh gác
gì ở đây đâu, anh tưởng ai dại gì mà ở đây canh gác cái buồng máy với
buồng lái trong đêm gió bão như thế này, nhất là chưa biết lúc nào cái
tàu nó sẽ vỡ và chìm xuống lòng sông.
Jim không biết nói thế nào, đành chịu. Tôi lại nói:
- Vả lại, chúng mình có thể mượn tạm cái gì đáng
giá ở trong buồng ông thuyền trưởng. Xì gà, anh có biết không, mỗi điếu
xì gà đáng giá năm xu, nhất định như vậy. Thuyền trưởng trên những con
tàu chạy sông bao giờ cũng giàu, lương mỗi tháng đến sáu mươi đô la và
họ muốn mua cái gì thì không bao giờ thèm tiếc rẻ một xu. Lấy một cây
nến trong bọc ra đây, Jim chưa lên đó lục lọi thì tôi không thể ngồi im
được. Anh tưởng nếu thằng Tom Sawyer ở đây nó không chịu ngồi im ư?
Không đâu, tôi đánh cuộc với anh là nó không chịu đấy. Nó sẽ gọi đây là
cuộc phiêu lưu, đúng thế đấy; và rồi cuối cùng thế nào cũng phải trèo
lên cái tàu đắm này. Rồi nó lại không thêm thắt bao nhiêu chuyện ly kỳ,
bịa bao nhiêu thứ khác vào đó nữa à? Cứ lên mà xem, Jim, rồi anh sẽ
tưởng như mình là Columbus đi tìm ra châu lục mới cho mà xem. Lên đi.
Tôi chỉ ước giá lúc này có thằng Tom Sawyer ở đây thôi.
Jim làu nhàu một chút, nhưng rồi cũng nghe theo.
Hắn bảo thôi không được nói thêm gì nữa, có nói thì nói thật khẽ. Chớp
loè lên vừa lúc chúng tôi nhìn rõ được cái tàu đắm và ghé đến. Chúng tôi
tìm cái cột trục để bụôc dây bè vào đó. Mặt tàu chỗ này cao. Trong bóng
đêm, chúng tôi lần nhẹ theo sườn tàu đi đến cửa buồng lái; cảm thấy như
chân mình lần đi quá chậm. Chúng tôi đưa tay ra rờ rờ phía trước để
tránh đâm vào cọc, vì trời tối đen, chẳng nhìn thấy một tí gì. Dần dần
nhìn lâu quen mắt qua cái sáng màn đêm, trèo lên được. Một bước nữa là
đến cửa buồng thuyền trưởng. Cửa đã mở sẵn. Đứng cạnh Jim tôi nhìn xuống
buồng máy thấy có một tia sáng và cũng ngay lúc đó hình như chúng tôi
nghe thấy có tiếng người rì rầm ở phía đó.
Jim ghé vào tai tôi nói thầm rằng hắn sợ lắm,
bảo tôi đi ra thôi. Tôi bảo ừ, và đang sắp sửa quay về chỗ bè thì nghe
có tiếng la lên.
- Ôi, thôi, van các anh, đừng, tôi thề sẽ không nói.
Tiếng một người khác to hơn:
- Mày nói dối, Jim Turner. Trước kia mày cũng đã
làm thế. Bao giờ mày cũng đòi lấy qúa cái phần hưởng, và lần nào mày
cũng được cả, vì mày dọa nếu không được như thế thì mày sẽ đi tố cáo.
Lần này mày lại vẫn nói thế. Mày là con chó, xấu nhất, gian trá nhất ở
cái xứ này.
Lúc này thì Jim đã bỏ ra bè rồi. Tôi thì bị cái
tính tò mò giữ mình lại, tôi tự bảo; phải thằng Tom Sawyer thì lúc này
nó không chịu bỏ đi đâu. Vậy thì tôi cũng thế, phải xem ở đây có chuyện
gì cái đã. Tôi lại nép vào chỗ tối lom khom bò lách đi, chỉ có cách có
ngăn buồng của thuyền trưởng là đến chỗ đó. Tôi ngó vào thấy một người
nằm trên sàn nhà bị trói chặt chân tay, có hai người khác đứng đẫm chân
lên, mộtngười xách cái đèn lù mù trong tay, còn người kia cầm khẩu súng
lục. Người cầm súng chĩa miệng súng vào đầu người nằm dưới đất, nói:
- Thà như vậy. Tao muốn bắn chết mày, đồ con chồn hôi.
Người nằm dưới sàn nghểnh cổ lên nói:
- ồ, tôi xin anh, đừng, anh Bill, tôi nhất định sẽ không bao giờ nói:
Mỗi lần như vậy người cầm đèn lại cười:
- Thật mày không nói? Mày chưa bao giờ nói thật
hơn thế cả, có phải thế không nào? Nghe nó van xin mày! Nếu mình không
tính cách trói nó lại thì nó giết cả bọn mình đấy. Mà này định giết
chúng tao để làm gì? Mày chẳng được gì cả đâu. Đây chỉ là chúng tao muốn
giữ quyền lợi cho chúng tao mà thôi. Nhưng mà tao sẽ không để cho mày
dọa ai được nữa, nghe không, Jim Turner. Thôi bỏ súng đi Bill.
Bill nói:
- Tao không muốn thế, Jake Packark. Tao muốn
giết nó. Chẳng phải trước nó đã giết lão Hatfield như thế đấy ư? Bây giờ
giết nó còn không đáng hay sao?
- Nhưng tao không muốn cho nó chết, và tao đã có ý định của tao rồi.
Người nằm dưới đất khóc mếu.
- Lạy anh tha cho anh Jack Packard! Tôi còn sống sẽ không bao giờ quên anh.
Packard không để ý đến những lời nói ấy, treo
chiếc đèn lên một cái đinh và đi ra phía chỗ tôi nấp trong bóng tối và
gọi Bill cùng ra.
Tôi vội toài người thật nhanh đi chừng vài
thước, nhưng tàu chòng chành thành ra không toài được xa, để họ đi ra
khỏi dẫm lên người mình và bắt được, tôi bò ngược lên phía trên buồng
lái. Người đi đầu dò dẫm trong bóng tối, tới buồng lái ngay cạnh chỗ tôi
nấ; rồi nói:
- Đây, vào đây.
Hắn được vào, Bill vào theo. Nhưng trước khi hau
người bước hẳn vào tôi đã kịp lách lên cái giường treo ở phía trên và
nằm thu gọn vào một góc. Trong bụng lấy làm hối hận rằng mình tự nhiên
bò đến chỗ này. Họ đứng ngay bên cạnh, tay vịn vào thành giường nói
chuyện. Tôi không trông thấy rõ hai người, nhưng có thể biết họ đứng chỗ
nào vì ở mồm họ thở ra toàn là hơi rượu uýt sky. Cũng may là tôi không
uống rượu uýt sky; nhưng cái đó chẳng có gì hơn; họ vẫn không thể biết
có tôi nằm đó vì tôi không thở. Tôi đâm ra quá sợ rồi. Vả lại nếu thở
thì cũng không nghe được câu chuyện. Họ nói rất nhỏ và chậm rãi. Bill
thì muốn biết ngay Turner. Hắn nói:
- Nó đã bảo nói ra, chắc thế nào nó cũng sẽ nói
ra. Nếu chúng minh phải đưa cho nó cả phần của chúng mình thì cũng vẫn
không hơn gì, nhất là sau cả một phen vất vả và cái cách mình hầu hạ nó
như thế. Tất cả những chuyện mình làm rồi nó sẽ đi tố cáo hết; mày nghe
không? Tao sẽ thủ tiêu nó đi là hết.
Packard điềm nhiên nói:
- Tao cũng tính thế.
- Con khỉ. Tao đã tưởng mày không muốn thế. Nếu vậy thì tốt lắm. Thôi ta làm đi thôi.
- Khoan đã, tao chưa nói xong. Nghe đây này, bắn
thì tốt những có cách khác lặng lẽ hơn nếu như cần phải giết nó. Tao
nghĩ thế này: nếu treo cổ nó lên thì sau này mình đi đâu sẽ áy náy trong
lòng. Nếu có cách gì đại khái như thế mà không có gì phải bận tâm và
cũng không nguy hiểm cho mình nữa thì nên làm, mày có nghĩ thế phải
không?
- Phải, nhưng lúc này làm thế nào khác được?
- Không, tao nghĩ rằng hãy tìm quanh quẩn đây
nhặt những thứ mình thấy trong buồng lái đem lên bờ giấu đi đã. Rồi chờ
xem. Tôi chắc chỉ trong vòng hơn hai tiếng đồng hồ nữa là chiếc tàu này
sẽ vỡ và chìm nghỉm xuống đáy nước. Nghe không? Nó sẽ chết đuối luôn, mà
không oán trách ái được, chỉ tự oán nó thôi. Tao tính giết nó bằng cách
này như vậy là ổn hơn cả. Tao không muốn giết một người mà về sau cứ
phải bận tâm ấy mãi. Điều đó không tốt, mà không phải là đạo đức. Có
phải không?
- ừ, tao nghĩ mày nói cũng phải. Nhưng tàu nó không vỡ không chìm thì sao?
- Thì dù sao mình cũng cứ đợi hai tiếng đồng hồ xem thế nào đã chứ
- Được, thôi đi!
Hai người bước ra, và tôi cũng lách ra theo, mồ
hôi toát lạnh cả người. Tôi bò lên phía trước. Tối như mực. Tôi khẽ lên
tiếng gọi: Jim, ngay phía bên cánh tay tôi, tiếng Jim đáp lại, nghe như
một tiếng than thở. Tôi nói:
- Nhanh lên Jim. Không có thì giờ vớ vẩn, than
thở nữa đâu. Trong kia có một bọn cướp. Nếu mình tìm lấy cái thuyền của
chúng và thả cho nó buông trôi đi để chúng nó không thoát khỏi cái tàu
đắm này, thì sẽ có một thằng trong bọn chúng chết không cựa được. Còn
nếu ta tìm được cái thuyền của bọn chúng thì ta có thể làm sao cho cả
bọn chúng hết cựa vì viên quận trưởng sẽ đến tóm cổ chúng. Nào mau lên,
tôi đi phía bên cửa buồng lái, còn anh chạy sang phía bên kia. Anh hay
ra bè rồi...
Ôi, trời ơi, bè? Còn bè đâu nữa? Nó đã đứt dây buộc trôi đi mất rồi - thôi, thế là chết kẹt ở đây thôi!
Chương 13 :
Tôi nghẹt thở, gần như sắp quỵ xuống . Bị kẹt ở
trên một cái tàu đắm với một bọn cướp thế này! Nhưng thôi, chả có thì
giờ mà ngồi than khóc nữa. Chúng tôi phải tìm cách gỡ lấy cái gì ở đấy
mà thoát mới được. Chúng tôi vừa đi vừa rung lên thành tàu, mà sao nói
lại chậm chạp thế nữa chứ, hình như đi được tới đằng sau lái phải mất
đến một tuần lễ.
Chẳng thấy bóng dáng chiếc thuyền nào cả. Jim
thì nói rằng không chắc hắn có thể bước đi được nữa không, hắn sợ quá
đến nỗi không còn sức mà bước nữa - hắn bảo thế. Nhưng tôi giục cứ đi,
nếu bị kẹt trên cái tàu đắm này thì chắc chết. Chúng tôi lại dò dẫm đi.
Lần được tới đằng sau lái, nhô ra phía cửa kính bám chặt vào ô cửa,
nhưng ô cửa đã gần chìm xuống mặt nước. Lúc ra đến cửa lớn để đi sang
buồng hành khách thì thấy có một chiếc xuồng con ở đó.
Đúng là xuồng rồi, tôi nhìn thấy rõ ràng.
Trời ơi! Không còn mừng nào đáng mừng hơn nữa.
Tôi vừa định trèo lên thì cánh cửa chợt mở. Một người thò đầu ra chỉ
cách chỗ tôi độ nửa thước. Tôi tưởng thế là chết, nhưng rồi người kia
lại thụt đầu vào nói:
- Nhấc cái đèn lên một tí thì mới nhìn thấy được, Bill ơi!
Hắn ta vứt một cái bọc gì vào khoang tàu, rồi
bước vào theo bậc xuống. Đó là Packard. Rồi đến Bill vào theo nữa.
Packard nói nhỏ:
- Xong cả rồi, đẩy đi
- Tôi không đánh đu được lên cánh cửa, vì sức yếu quá.
Bill nói:
- Giữ lấy nhé, mày đã soát kỹ lại nó chưa?
- Chưa, mày có soát lại không?
- Không, nhưng mà nó chưa lấy phần của nó đâu.
- Thôi, thế được rồi, đi đi, không cần phải lấy đồ đạc và bỏ tiền lại.
- Nhưng này, liệu có thể nghi là mình bỏ lên làm gì không?
- Có lẽ không. Nhưng dù sao mình cũng ăn chắc rồi. Đi thôi.
Rồi họ đi ra.
Cánh cửa đóng đánh sầm một cái, vì nó ở bên phía
đốc đóng vào. Chỉ trong một nửa tích tắc, tôi đã nhảy vào chiếc xuồng
con. Jim lập cập nhảy theo sau, tôi rút con dao nhíp ra cắt đứt dây
thừng. Thế là chuồn.
Chúng tôi không hề đụng đến một cái mái chèo,
không nói mà cũng không thì thầm, ngay cả thở mạnh cũng không dám nữa.
Cho xuồng lướt nhẹ đi, im lặng như chết, đi qua cái guồng tàu, rồi đi
qua đằng lái, rồi một vài giây đồng hồ sau, chúng tôi đã cách xa cái tàu
đắm đến gần trăm thước. Bóng tối đã hoàn toàn che lấp hết không còn
nhìn thấy gì ở chiếc tàu nữa. Và chúng tôi biết rằng mình đã thoát.
Khi đã xa khoảng ba bốn trăm thước rồi, quay lại
nhìn, thấy cái đèn loé lên một chút ánh sáng ở chỗ khung cửa buồng máy
chừng một giây đồng hồ. Chúng tôi biết là những gã kia không rời được
khỏi tàu và cũng đang lúng túng, chẳng hơn gì cái tên Jim Turner đang bị
trói.
Rồi Jim cầm lấy mái chèo, chúng tôi cho thuyền vượt nhanh lên để tìm cái bè của chúng tôi.
Đến lúc này, tôi mới bắt đầu nghĩ đến mấy gã
kia, vì thật ra khi nãy chẳng còn bụng dạ nào mà lo cho họ cả. Tôi bắt
đầu nghĩ rằng, ngay cả đối với những kẻ giết người đi nữa thì trường hợp
bị chết kẹt như thế này thật là kinh khung. Tôi tự bảo không thể nói
đến chuyện mình trở thành kẻ sát nhân, thế thì sao tôi lại có thể thích
để cho họ như thế được. Tôi bảo Jim:
- Hễ thấy chỗ nào có ánh đèn thì chúng mình sẽ
cập vào khoảng một trăm thước trên chỗ đó, tìm một chỗ để anh có thể đem
chiếc xuồng con này nấp kín được, còn tôi sẽ đi tìm người nào cùng đến
chỗ tàu đắm lúc nãy để mà cứu cho bọn cướp ấy.
Nhưng ý kiến đó không thực hiện được, vì vừa nói
xong thì cơn bão lại kéo đến, và lần này còn ghê gớm hơn. Mưa đổ xuống
mà không có chớp cả. Tôi nghĩ lúc này ai nấy đều ngủ hết. Chúng tôi cứ
lao xuồng đi theo dòng sông, tìm ánh đèn, tìm cái bè của chúng tôi. Một
lúc sau rất lâu, mưa tạnh nhưng trời vẫn còn nặng mây, lại có tiếng sấm ù
ù rồi một tia chớp loè lên, chúng tôi thấy trước mặt có vật gì màu đen
đen trôi lềnh bềnh, vào chúng tôi lại vượt lên đuổi.
Đó là cái bè. Chúng tôi vô cùng mừng rỡ, lại
trèo lên. Phía bờ bên phải ở chênh chếch về dưới một tí chúng tôi chợt
thấy ánh đèn. Tôi định sẽ tới đó. Trong chiếc xuồng còn đầy những đồ đạc
mà bọn cướp kia lấy được đã chất vào. Chúng tôi khuân vứt lên bè được
một đống. Tôi bảo Jim cứ cho xuôi xuồng phía dưới nữa đi. Tôi trỏ cho
hắn trông thấy cái ánh sáng mà hắn tưởng như mình đã đi xa gần hai dặm,
ánh đèn lúc nãy vẫn lấp lánh cho đến lúc chúng tôi tới gần. Tôi cầm mái
chèo lên, đẩy xuồng đến chỗ có ánh sáng. Tôi càng đến gần thì lại thấy
ba bốn ánh sáng nữa loé lên ở phía lưng đồi. Ra đây là một cái làng. Tôi
tiến đến chỗ có ánh sáng ở gần bờ nhất, mái chèo vẫn gác để cho xuồng
nhẹ trôi. Đến tận nơi nhìn kỹ hóa ra một chiếc đèn lồng đang treo ở trên
cột của một chiếc tàu phá. Tôi bước lên tìm người gác, thấy một anh
chàng nào đang ngủ ở đó, đầu chui về phía trước và rúc hai đầu gối mà
ngủ. Tôi khẽ đập vào vai hắn hai cái rồi lên tiếng làm ra điệu khóc mếu.
Anh ta giật mình choàng dậy, nhìn ra chỉ thấy có tôi, mới ngáp một cái, vươn vai rồi nói:
- Hả, cái gì thế? Đừng có khóc, chú em. Làm sao, làm sao?
Tôi đáp:
- Bố tôi, mẹ tôi, và chị tôi, và...
Rồi tôi dừng lại. Anh ta hỏi:
- ồ, thôi đừng lo. Cứ yên trí. Ai mà không có khó khăn, nhưng rồi cũng xong cả. Sao, họ làm sao?
- Họ... ơ - họ... nhưng có phải ông là người gác tàu không?
- Phải - Anh ta trả lời với một giọng khoái trá.
Ta là thuyền trưởng, là chủ tàu, là phụ việc, là lái tàu, là người gác,
là chủ huy trên boong, có khi ta là hàng hoá, là hành khách đi tàu nữa.
Ta đây không giàu có bằng lão Jim Hornback đâu, và ta đây cũng không
thể ăn ở tốt với thằng Tom, Dick, Harry như lão Jim được, nhưng ta đã
bảo lãnh nhiều lần là ta sẽ không đổi chỗ cho lão, bởi vì hãy nghe đâu
này, đời ta là đời thuỷ thủ, mà nếu như ta sống xa thành phố hai dặm thì
ta cũng buồm lắm, vì ở cái chốn này chẳng có chuyện gì thú vị; ta ở đây
không phải vì tiền bạc của lão ta đâu, ta bảo không cần...
Tôi chen vào nói:
- Họ đang sắp chết đến nơi rồi và...
- Ai?
- Còn ai nữa, bố, mẹ chị và cô Hooker, nếu ông có thể lấy cái tàu này đi đến chỗ đó...
- Chỗ nào, họ đang ở đâu?
- ở trên tàu đắm
- Tàu nào đắm?
- Tàu nào nữa, chỉ có một cái thôi chứ
- Hả! Có phải chú em nói cái tàu Walter Scott đấy không?
- Phải
- Trời ôi, chết chửa, họ ra đây làm gì thế?
- Không phải là họ muốn ra đấy
- Ta biết! Chết thật rồi, nếu họ không thoát ra mau thì nguy lắm. Mà sao họ lại có thể không may như vậy được?
- Có gì đâu, chắc có Hooker định ngược phía ấy lên tỉnh chứ gì
- Phải, rồi sao nữa?
- Cô ấy định đi đường đó để đến Booth Landing,
rồi thế nào đến lúc trời tối cô ấy lại đi với một người hầu da đen định
đi một chiếc đò chở ngựa lên một nhà người bạn rồi ở đó đến suốt đêm,
cái cô bạn gì ấy tôi chả nhớ rõ tên, ấy thế rồi đang đi thế nào lại tuột
mất mái chèo, còn đò mới quay ngang rồi trôi xuống, đằng lái lao đi
trước, xa đến gần hai dặm, rồi đâm ngay vào chiếc tàu đắm, cả người chèo
đò, cả người hầu da đen nữa, đều mất tích. Còn cô Hooker thì bám được
vào chiếc tàu đắm. Sau một lúc xẩm tối độ một giờ đồng hồ, chúng tôi
chèo thuyền dọc xuôi tìm kiếm nhưng trời tối quá không nhìn thấy chiếc
tàu đắm thành ra cũng đắm phải nó nốt, chúng tôi cũng bị lật thuyền. Tất
cả chúng tôi đều lên được, chỉ trừ có Bill Whipple. Ôi trời ơi, Bill là
người thông minh lắm. Tôi nghĩ tại sao tôi lại không chết thay cho Bill
cơ chứ!
- Chú Goerge ơi, thật ta chưa nghe thấy điều đau đớn như thế bao giờ! Thế rồi các người làm sao nữa?
- Chúng tôi gào to lên gọi, nhưng chỗ đó sông
rộng quá, chẳng ai nghe thấy. Rồi bố tôi mới bảo có ai lên bờ mà kêu cứu
đi chứ. Chỉ có mình tôi biết bơi, tôi bèn đi ngay, cô Hooker bảo tôi là
nếu không đi gọi được người cứu cho nhanh thì phải về đây ngay và gọi
bác cô ấy đi để ông ấy sẽ tính cách giải quyết. Tôi đi đến gần một dặm
tìm mãi, mong làm sao tìm được người đến cứu giúp, nhưng ai họ cũng bảo:
Trời ơi, đêm tới, sông nước như thế này, cứu làm sao được, phải tìm lấy
cái tàu phà cơ. Đấy, bây giờ xin ông đi cho và...
- Chà, ta cũng muốn đấy, nhưng mẹ kiếp, ta không
biết có nên làm không. Mà ai là người đứng ra trả tiền cho ta đây? Có
phải bố chú không?
- Sao? Cái đó cố nhiên chứ. Cô Hooker cô ấy bảo tôi thế mà, đặc biệt là bác cô ấy là ông Hornback...
- Chết chửa, lão ta là bác cô ấy ư? Đây này, ta
bảo nhé, chú đi quanh cái chỗ có đèn kia kìa, rồi ngoặt sang phía Tây,
đi chừng một phần tư dặm thì đến một cái quán, bảo họ chỉ cho chú đi
ngay và lão Jim Hornback rỗi lão ta sẽ ký giấy trả tiền cho. Mà chú đừng
có la cà, vì lão ta đang cần biết tin tức thế nào. Bảo với lão rằng ta
sẽ đảm bảo cho cô cháu lão an toàn trước khi lão đi lên tỉnh. Thôi, ba
chân bốn cẳng chạy đi mau lên. Còn ta sẽ ra gần đây tìm bác thợ máy.
Tôi đi quành ra chỗ có đèn, nhưng chờ cho hắn ra
vừa đi ra phía góc thì tôi quay lộn lại và nhảy xuống chiếc xuồng con
của tôi chuồn thẳng. Tôi cho xuồng đi dọc theo bờ có chỗ nước đứng vào
khoảng sáu trăm thước, rồi tôi nấp vào đám thuyền gỗ đậu ở đấy xem, vì
tôi chưa thấy chiếc tàu phá ở bến đi ra thì chưa yên tâm. Nhưng nói cho
cùng thì tôi cũng cảm thấy khoan khoái vì đã vất vả với đám cướp kia mà
trong khi đó nhiều người khác chả ai làm như thế. Tôi mong rằng bà goá
biết về chuyện này. Tôi chắc mụ sẽ lấy làm tự hào về tôi đã cứu giúp
những tay bất trị ấy vì những người bất trị, những kẻ vô tích sự ấy lại
là những kẻ mà bà goá và những người đứng đắn hay quan tâm đến.
Rồi một lúc lâu thấy chiếc tàu đắm thì nãy đi
tới, đen lù lù, từ từ trôi xuống. Lúc trông thấy nó một cảm giác lành
lạnh làm tôi giật mình. Trông nó thật đồ sộ, và trong giây phút tôi nghĩ
rằng nếu có người nào ở trong đó thì rất khó mà sống được. Tôi đẩy
xuồng ra gần và hú lên một tiếng khẽ gọi, nhưng không có tiếng trả lời,
tất cả đều im lặng như chết. Tôi cảm thấy hơi buồn về đám cướp, nhưng
cũng không buồn lắm, vì tôi nghĩ nếu như thiên hạ người ta có thể mặc
nhiên được thì tôi cũng có thể được.
Rồi thấy cái tàu phá đi tới. Tôi liền chèo xuống
ra giữa sông đến một chỗ có dòng nước ngầm, rồi khi tôi đã chắc chắn là
ra ngoài tầm mắt nhìn của người khác, tôi gác mái chèo lên, quay lại
nhìn chiếc tàu phá đi theo thả một làn khói che kín cả chiếc tàu hỏng đi
trước, có cái xác của cô Hooker mà cái anh thuyền trưởng khi nãy yên
trí rằng trong đó có cái xác của cô ta và nghĩ rằng sẽ đem được về cho
lão Hornback. Rồi lát sau nữa thì cái tàu phà để mặc cho chiếc tàu trước
cứ đi, còn nó thì rẽ vào bến. Còn tôi lại trở về công việc của tôi và
đẩy xuồng xuôi xuống dòng sông.
Chờ lâu lắm tôi mới thây ánh đèn của Jim, khi ánh đèn ấy loá lên nhìn như cách xa hàng ngàn dặm.
Lúc này, phía chân trời đã hửng lên một màu xanh
xám, thế là chúng tôi lại mò vào hòn đảo, giấu kín cái bè đánh đắm
chiếc xuồng con, rồi quay lại ngủ như chết.
Chương 14 :
Đến lúc tôi thức dậy mới giở cái
bọc đồ của bọn cướp đã lấy ở trên chiếc tàu hỏng ra xem, thấy nào là
giầy, chăn màn, quần áo, với đủ mọi thứ khác, một bô sách, một cái ống
nhòm và ba hộp xì gà. Thật cả đời chúng tôi chưa bao giờ lại giàu có như
thế. Xì gà thuộc vào loại ngon hạng nhất. Cả buổi chiều chúng tôi nằm
trong rừng nói chuyện. Tôi thì đọc sách, rất thú vị. Tôi kể lại cho Jim
nghe tất cả những chuyện diễn ra trên chiếc tàu hỏng và ở chỗ phà tàu,
rồi tôi bảo rằng đó là những chuyện phiêu lưu. Nhưng Jim bảo hắn không
thích những cái phiêu lưu như thế nữa. Hắn nói rằng lúc đó tôi tò mò vào
trong khoang tàu, hắn cũng bò lui lại để lên bè thì thấy bè đã trôi đi
rồi, hắn gần như chết điếng và nghĩ rằng như thế là hết đời, dù sao cũng
không thoát khỏi nơi này, và nếu như không có ai đến cứu thì sẽ chết
đuối mất. Mà nếu có ai cứu thì cũng sẽ bắt hắn đêm về lĩnh thưởng, rồi
cô Watson sẽ đem hắn bán xuống miền Nam. Chắc chắn như vậy. Hắn đúng
đấy. Thường hắn nói vẫn có lý. Hắn có một bộ óc không bình thường đối
với trình độ của một người da đen.
Tôi đọc cho Jim nghe khá nhiều về chuyện những
vua chúa, những quận công, bá tước vân vân... nào là họ ăn mặc xa hoa
lộng lẫy bao nhiêu thứ kiểu cách trên người, gọi nhau bằng những thứ
tiếng như: tâu hoàng thượng, thưa bề trên, tâu bệ hạ v... v... chứ không
gọi nhau là ông. Jim ngồi nghe, mắt tròn xoe, rất chăm chú. Hắn nói:
- Tôi không biết sao họ lại có nhiều đến như
thế. Trước kia, tôi chỉ nghe nói đến mỗi một ông vua thôi, mà thỉnh
thoảng lắm mới nói đến, tức là cái ông vua Sollermun ấy, chứ đâu có biết
là cậu phải đếm những ông vua ấy như đếm bò đếm ngựa ấy nhỉ. Thế mỗi
ông vua như vậy được bao nhiêu tiền.?
- Được à? Các ông đó muốn đến một ngàn đô la một
tháng cũng có; mà muốn bao nhiêu cũng được bấy nhiêu. Cái gì cũng là
của các ông ấy cả.
- Ô, hay nhỉ? Thế các ông ấy làm gì, cậu Huck?
- Các ông ấy chẳng làm gì cả. Sao anh ngốc thế? Các ông ấy chỉ ngồi đó thôi.
-Bậy! Thật thế ư?
- Cố nhiên là như thế rồi. Các ông ấy chỉ ngồi
đó. Có lẽ trừ những thí dụ như có chiến tranh thì các ông ấy ra trận.
Nhưng lúc khác thì ngồi ườn, hoặc đi săn bắn, và... suỵt... Jim có nghe
thấy tiếng gì không?
Chúng tôi nhẹ chân bước ra nhìn, nhưng không có
gì cả, chỉ có tiếng lạch bạch của một con tàu đi về xuôi, chạy qua đó.
Hai đứa lại quay về chỗ.
Tôi nói tiếp:
- ừ còn những lúc khác, như khi nào các ông ấy
buồn thì ngó đến cái nghị viện, nếu có ai không làm theo thì các ông ấy
đập vào đầu, nhưng phần nhiều là các ông vua ấy chỉ quanh quẩn ở trong
nữ cung.
- Trong cái gì?
- Nữ cung
- Nữ cung là cái gì?
- Là cái chỗ các ông ấy để những bà vợ trong đó.
Anh không hiểu thế nào là nữ cung à? Vua Sollermun trước kia cũng có
một cái nữ cung như thế, và có đến một triệu người vợ.
- à, phải rồi, phải rồi. Tôi quên đi mất. Nữ
cung là một cái nhà chứa người, tôi chắc thế. Đại khái nó giống như lúc
nhốn nháo ở trong cái trại trẻ ấy chứ gì. Tôi chắc là khi những bà vợ ấy
cái lộn với nhau thì phải biết! Tha hồ mà nhốn nháo. Rồi lại còn nghe
họ nói rằng vua Sollermun là người khôn ngoan nhất trên đời. Tôi chả tin
như vậy. Tại sao? Nếu là người khôn ngoan thì tại sao lại sống mãi
trong cái cảnh lung tung ấy như thế. Không, đúng là ông ấy không khôn
ngoan đâu. Một người khôn ngoan thì phải dựng lên cái nhà máy làm thức
ăn, và khi nào muốn nghỉ thì đóng cửa nhà máy ấy lại chứ.
- Nhưng dù sao ông ấy xưa kia vẫn là người khôn ngoan nhất, vì chính bà goá cũng bảo tôi thế mà.
- Bà goá ấy nói thế nào tôi không biết, chứ vua
Sollermun nhất định không phải là người khôn ngoan. Ông ấy có những cách
phân xử người ta mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Cậu có biết câu chuyện
đứa bé con mà ông ấy định cho chặt ra làm hai không?
- Có, bà góa cũng có nói cho tôi nghe chuyện này
- Đấy! Thế! Chẳng phải là cái chuyện cay đắng
nhất trên đời ấy ư? Cậu thử nghĩ xem. Chuyện đó rắc rối như thế, bên này
là một người đàn bà, cậu nghe không, thí dụ cậu là một người đàn bà
khác; tôi là Sollermun, và cái tờ đô la này là đứa trẻ con. Cả hai bên
đều đòi lấy. Vậy tôi làm thế nào. Tôi có nên đi hỏi láng giềng rằng tờ
đô la này là của ai không, rồi sẽ giao nó cho người nào có nguyên vẹn cả
tờ giấy bạc; tất cả những ai có óc thực tế đều làm như vậy, có phải
không? ấy thế mà tôi lại đi xé tờ đô la ra làm đôi và đưa một nửa cho
cậu, còn một nửa cho người đàn bà kia. ấy đấy, ông Sollermun ông ấy làm
cái cách như vậy đối với một đứa bé con ấy đấy. Bây giờ tôi thử hỏi cậu:
một nửa tờ bạc ấy thì còn dùng làm gì được? Chẳng mua gì được. Thế thì
một nửa đứa bé còn làm gì đựơc. Tôi thì cứ cho là có đến một triệu ông
vua làm như thế cũng vẫn chẳng đáng một xu.
- Thôi đi, Jim, anh nói sai bét rồi, láo lếu, anh nói sai đến hàng ngàn dặm.
- Ai, tôi ấy à? Xin cậu. Đừng có nói đến chuyện
đo lường của cậu với tôi đi. Tôi biết rằng khi tôi trông thấy rõ cái gì
là tôi hiểu ý ngay. Và ý nghĩa cái này không thể lẫn sang kia được. Cái
chuyện cãi nhau như thế không phải là để giành lấy được một nửa đứa bé,
mà là tất cả đứa bé, mà cái người nào tưởng rằng có thể giải quyết việc
cãi cọ với nhau bằng cách chia mỗi bên một nửa đứa bé, như vậy là cái
người đi mưa mà lại không biết tránh đâu cho khỏi mưa. Thôi, cậu đừng
nói chuyện với tôi về Sollermun nữa, cậu Huck ạ, tôi biết rõ cả đằng sau
gáy của ông ấy nữa.
- Nhưng tôi bảo là anh nói không đúng chỗ cơ mà!
- Mặc kệ cái sự đo lường ấy của cậu. Cái gì tôi
biết là tôi biết. Cậu phải hiểu rằng cái thùng để đong sự thật nó còn đo
được sâu hơn nữa. Sai hay đúng thì nó ở ngay cái cách phân xử của ông
Sollermun ấy chứ đâu. Cậu thử lấy ví dụ một người có một hay hai đứa con
xem, có phải người đó dám hy sinh trẻ con không? Không, chả có như thế.
Người đó sẽ biết giá trị của trẻ con như thế nào. Nhưng nếu cậu lấy một
người mà hắn có độ năm triệu đứa trẻ trong nhà thì lúc đó lại khác. Hắn
sẽ sẵn sàng chặt đôi đứa trẻ như chặt một con mèo. Bởi vì hắn có nhiều
mà. Một hay hai đứa trẻ, nhiều hơn hay ít hơn, cái đó có nghĩa lý gì đối
với Sollermun đâu?
- Tôi chưa bao giờ thấy có một anh da đen nào
như vậy. Nếu như hắn có một ý niệm gì trong đầu thì không thế nào bắt
hắn bỏ đi được. Hắn là người da đen đã phỉ báng Sollermun nhiều nhất mà
bây giờ tôi mới biết là một. Thế là tôi phải nói chuyện các vua chúa
khác, bỏ chuyện Sollermun sang một bên. Tôi nó về vua Louis thứ mười sáu
ở Pháp đã bị chặt đầu từ lâu rồi, và nói đến cậu con nhỏ của ông ấy, là
thái tử, đáng lẽ lại trở lên làm vua, nhưng bị người ta bắt bỏ ngục, và
nghe có người nói là cậu ta bị chết trong đó.
- Khổ, tội nghiệp cho cậu bé!
- Nhưng lại có người nói là cậu ta thoát chết và đã đi sang Mỹ.
- Thế thì hay! Nhưng chắc là cậu ấy cũng không có chỗ kiếm ăn nhỉ. Cậu ta định làm gì?
- Biết đâu đấy. Trong đám những ông vua ấy có người thì đi làm cảnh sát, có người thì đi dậy học tiếng Pháp.
- ồ, thế người Pháp họ không nói như chúng ta à, cậu Huck?
- Không, Jim ạ, anh mà nghe người ta nói thì anh chả hiểu câu nào đâu, một chữ cũng không hiểu.
- ồ thế thì tôi ngốc thật. Vậy làm thế nào?
- Tôi cũng chả biết. Nhưng nó thế đấy. Tôi có
thấy một vài tiếng của họ trong cuốn sách. Thí dụ như có một người đến
hỏi anh: "Parlez - vous francais?" thì anh nghĩ thế nào?
- Tôi chẳng nghĩ thế nào cả. Tôi sẽ đập cho hắn
một cái vào đầu, nghĩa là nếu hắn ta không phải người da trắng. Nếu là
người da đen thì tôi không cho phép ai gọi tôi thế.
- Im đi, đó không phải là gọi anh đâu. Đó chỉ là hỏi anh có biết nói tiếng Pháp không?
- ừ, thế sao hắn không nói thẳng ra như vậy có được không?
- Chính hắn nói như vậy đấy chứ. Đó là cách nói của người Pháp đấy.
- ồ, thế thì thật là quái gở, kỳ cục. Mà thôi, tôi không thích nghe chuyện ắy nữa. Chẳng có nghĩa lý gì cả.
- Đây này nhé, Jim, tôi hỏi con mèo nó có nói như chúng ta không nào?
- Không, mèo nào nói thế
- à, thế còn con bò?
- Bò cũng không
- Thế con mèo có nói như con bò không? Hay con bò có nói như con mèo không?
- Không
- Vậy thì con nọ nói khác con kia là tự nhiên và đúng, có phải không?
- Cố nhiên rồi
- Và con mèo, con bò nói khác chúng ta có phải cũng là tự nhiên và đúng không?
- ồ, nhất định là như thế rồi
- à, thế thì tại sao người Pháp nói khác chúng ta tại là không đúng và không tự nhiên. Anh thử trả lời tôi xem.
- Thế con mèo có phải là người khác không, cậu Huck?
- Không
- à, thế thì con mèo không thể nói như người được. Thế con bò có phải là người không - con bò có phải là con mèo không?
- Không, chẳng con nào là con mèo cả.
- à, thế thì quái lạ thật, tại sao hắn lại không có thể nói được như người. Cậu thử trả lời tôi xem nào?
Tôi thấy ngồi nói chuyện như vậy chỉ là phí lời
vô ích. Tôi không thể nào học nổi cái cách lý sự của người da đen được.
Thế là tôi thôi.
Chương 15
Chúng tôi tính chỉ ba đêm nữa sẽ tới Cairo , tức là nơi
cùng tịt vùng Illinois, chỗ mà sông Ohio chảy vào, và chính nơi đó là
nơi chúng tôi định đến. Chúng tôi sẽ đem bán cái bè đi và lên một chiếc
tàu thuỷ rồi cứ thế ngược sông Ohio qua những bang tự do, như vậy không
còn gì đáng lo ngại nữa.
Đến đêm thứ hai, sương mù bỗng phủ dầy đặc nên
chúng tôi phải tìm đến một cái khe để buộc bè lại. Vì không nên cứ liều
mạng đi trong sương mù. Nhưng lúc tôi đang chèo xuồng lên phía trên, đem
theo một cái cần móc thì cần tìm được chỗ nào để móc mà chỉ có những
đám sậy nhỏ. Tôi quất cái dây câu để nó cuộn vào một cây sậy ở bờ nước,
nhưng chính chỗ này lại có một dòng nước chảy xiết đến nỗi nhổ bật cả rễ
cây lên và rồi cứ thế nó trôi mãi. Sương màu càng xuống nặng, làm tôi
đâm lo sợ đến nửa phút đồng hồ không cựa quậy gì được. Không có bè ở đây
thì lại càng không nhìn được xa quá hai chục thước. Tôi nhảy về phía
lái xuồng nắm lấy cái mái chèo và đẩy lùi ra một nhát. Nhưng xuồng vẫn
không nhúc nhích đi. Thì ra tôi vội quá chưa cởi dây. Tôi đứng dậy định
tháo dây ra, nhưng không bình tĩnh, hai bàn tay run lên không làm gì
được.
Vừa cởi dây ra xong, tôi chèo ngay đi tìm bè,
chiếc bè ấm cúng chở nặng những đồ đạc của chúng tôi ngay ở chỗ đầu khe
kia. Tìm được ngay vì chỉ cách đó có dặm sáu chục thước. Chính cái lúc
tôi vừa đến gần đó thì lại đâm ngay vào một màn sương mù dầy đặc hơn
nữa, không sao biết lối ra; khác nào như một người đã chết hẳn rồi.
Tôi nghĩ có lẽ không chèo xuồng đi nữa, trước
hết hãy cho vào gần bãi hay lên chỗ nào đã. Tôi phải ngồi im để cho
xuồng trôi, và cái lúc đó mà phải ngồi im bó tay là điều rất khổ tâm.
Tôi đằng hắng lên một tiếng và nghe ngóng. Xa xa phía dưới tôi nghe thấy
một tiếng nhỏ vọng lại, mới hoàn hồn. Tôi lần đến gần nghe cho rõ hơn.
Đến gần hơn nữa, nó lại ở phía bên trái. Rồi không nghe thấy gì nữa, tôi
cũng không tìm nữa vì cứ phải quay xuồng đi bốn phía, trái lại tôi cứ
hướng phía trước mặt đi lên mãi.
Lúc ấy tôi muốn rằng có người nào đó giá cứ gõ
vào cái xoong và gõ đều thì mới dễ biết chỗ nào mà tìm. Nhưng lại không
có ai gõ, và chính cái yên lặng giữa một vài tiếng đằng hắng như vậy
càng làm cho tôi lúng túng. Tôi đi lên nữa thì bỗng tôi thấy tiếng hú ở
phía sau lưng. Thôi, tôi bị bao vây thật rồi. Đó đúng là tiếng hú của
người nào khác. Nhất định là tôi bị bao vây rồi.
Tôi vứt mái chèo xuống. Lại nghe thấy tiếng hú
vẫn ở sau lưng, nhưng từ một nơi khác. Nó mò đến, nó đổi chỗ, tự nó trả
lời, chốc chốc lại im lặng rồi lại vang lên ở trước mặt; tôi biết rằng
dòng nước đã quay đầu xuồng của tôi xuống phía dưới rồi, nếu như đó là
Jim chứ không phải người chở bè nào khác hú lên thì tôi yên trí. Trong
đám sương mù thì chẳng còn cái nào nhìn bằng mắt hay nghe bằng tai mà
lại còn tự nhiên được nữa.
Tiếng hú vẫn tiếp tục, khoảng một phút sau, tôi
đâm sầm ngay vào một cái bãi có mấy cây to lù lù như ma ở đó, rồi dòng
nước lại đẩy tôi sang bên trái lại đâm vào bờ nữa, giữa một đám củi mục
trôi lềnh đềnh gặp phải chiếc xuồng nó dồn lại kêu răng rắc. Và dòng
nước thì vẫn lặng lờ lách qua đám củi.
Lát sau, sương xuống lại càng dầy đặc. Càng im
lặng. Tôi ngồi im hẳn, nghe tiếng trống ngực đập thình thình. Tôi nghĩ
nếu như tim tôi đập đến tốc độ một trăm thì không thở được nữa.
Tôi đành chịu. Và tôi biết là tại sao lại đâm ra
thế này. Đám bão soi này là một hòn đảo, và Jim thì đã bị trôi dạt sang
phía bên kia. Chẳng có con lạch nào có thể đi sang trong khoảng mười
phút được. Trên đảo này cũng có cây gỗ to như mọi hòn đảo khác; có lẽ
cũng đến năm sáu dặm chiều dài và nửa dặm chiều ngang.
Tôi vẫn ngồi im, vểnh tai nghe đến mười lăm
phút. Cố nhiên xuồng vẫn trôi, đến năm sáu dặm một giờ. Nhưng trong bụng
thì không dám mong như thế. Có thể cảm thấy mình như nằm chết ngất trên
mặt nước. Nếu như không có một cây củi nào đi qua thì không thể được
rằng mình đang trôi nhanh chậm như thế nào. Nhưng cũng chỉ nín hơi, suy
nghĩ và nhìn cây củi đi qua thôi. Nếu như ai chưa từng biết trong đêm
khuya, một mình đám sương mù nó buồn chán và cô đơn như thế nào, thì hãy
cứ thử một lần mà xem sẽ thấy.
Rồi vào khoảng một nửa giờ sau, thỉnh thoảng tôi
lại lên tiếng rú gọi. Sau đó thấy có tiếng từ xa đáp lại, cố theo dõi
nhưng không được, và tôi đoán là mình đã lạc vào một nơi chằng chịt
nhiều khe lạch. Tôi nhìn hai bên bờ chỉ thấy tối mò. Có lúc nhìn rõ thấy
từng con ngòi, có lúc chỉ đoán phỏng vì nghe tiếng nước vỗ vào bờ bãi.
Tôi cũng chẳng buồn hú lên gọi trong đám những còn đất lô nhô này nữa,
mà chỉ lần đi một lát nữa thôi, vì thật còn khổ hơn là tìm ma trơi. Chưa
bao giờ tôi lại thấy tiếng vang nó cứ quanh quẩn và nó đổi chỗ một cách
nhanh chóng như vậy.
Đến bốn năm lần, tôi phải gỡ xuống ra cho khỏi
mắc vào bãi để tránh cho khỏi đâm vào những mô đá ngoài sông. Tôi đoán
chắc chiếc bè cũng đâm vào bãi nhiều lần; nếu không thì nó đã đi được và
có thể nghe thấy được nó ở chỗ nào. Bè vẫn trôi nhanh hơn xuồng.
Rồi, hình như tôi lại đâm ra sông nữa đây này
nhưng vẫn chưa thấy tiếng hú ở đâu. Tôi đoán Jim đã đâm vào đống gỗ nào
đó, và có lẽ thế đi đứt. Tôi mệt quá, nằm xuống xuồng và tự bảo thôi mặc
kệ không thèm bận tâm đến nó nữa. Tôi nghĩ bụng có lẽ nên chớp mắt đi
một tí.
Nhưng hoá ra không phải là chớp mắt, vì lúc tôi
thức dậy thì đã có ánh sao lấp lánh trên trời, sương mù đã tan; tôi làm
một giấc dài ở đằng lái. Lúc đầu tôi không biết mình đang ở đâu. Tôi
tưởng mình vẫn đang mê, nhưng khi nghĩ lại dần dần thấy mình như những
chuyện vừa qua đã xảy ra từ tuần lễ trước.
Chỗ này sông rộng một cách khủng khiếp, hai bên
bờ toàn những cây cao ngôi sao. Tôi nhìn xuống phía dưới sông có một vật
gì đen đen trên mặt nước. Tôi vượt đến nơi nhìn hoá ra chỉ là hai cây
gỗ mục buộc vào với nhau. Rồi lại thấy một vật khác, đuổi đến nhìn cũng
không phải. Rồi một lần khác nữa, và lần này đúng là cái bè của chúng
tôi.
Đến tận nơi thì thấy Jim đang ngồi gục, đầu kẹp
vào giữa hai đầu gối mà ngủ, còn tay phải thì gác lên mái chèo đằng lái.
Mái chèo trên đã vỡ, trên mặt bề đầy những lá cây, cành cây, củi rác.
Chiếc bè đã gặp một phen điêu đứng.
Tôi buộc xuồng vào bè rồi đến nằm ngay bên cạnh Jim, bắt đầu ngáp, duỗi thẳng chân ra đạp vào Jim một cái, và nói:
- Này Jim, tôi ngủ phải không? Sao anh không đánh thức tôi dậy!
- Trời ơi, cậu Huck đấy ư? Chưa phải cậu đã chết
à, chưa chết đuối à, cậu lại quay về đây à? May qúa cậu ơi, may quá.
Thật không ngờ. Để yên tôi nhìn cậu xem đã nào, để tôi sờ cậu xem đã
nào. Đúng rồi, cậu chưa chết, cậu vẫn còn sống và quay về đây, đúng cậu
Huck rồi, cậu Huck đây rồi. Trời ơi, may quá!
- Anh làm sao thế anh Jim. Anh đã uống rượu đấy à?
- Uống rượu? Tôi mà uống rượu? Tôi có uống rượu bao giờ?
- ờ thế thì sao anh nói lạ thế?
- Tôi nó thế nào mà lạ?
- Còn thế nào nữa. Tại sao anh nói ra toàn những chuỵên tôi hiện về với những cái gì gì ấy. Làm như tôi chết không bằng!
- Cậu Huck, Huck Finn, cậu hãy nhìn thẳng vào mắt tôi đây. Nhìn thẳng vào mắt cơ. Có phải cậu đã đi mất không?
- Đi mất? Quái nhỉ tôi chẳng hiểu anh nói thế là nghĩa thế nào? Tôi có đi đâu đâu. Mà đi đâu mới được chứ?
- Không, cậu nghe đây này. Nhất định là có
chuyện gì không hay rồi. Có phải tôi là tôi không? Hay tôi là ai? Tôi ở
đây hay đâu? Tôi muốn biết như thế.
- ồ, tôi nghĩ rằng anh đang ở đây, nguyên vẹn cả người, nhưng tôi cho rằng anh bị loạn óc hay làm sao đó, Jim ạ
- Tôi đang ở đây, phải không? Được, thế cậu trả
lời cho tôi cái này nhé: có phải lúc trước cậu nhảy vào xuồng để đem
buộc bè vào đầu khe không?
- Không, đâu có. Đầu bè nào? Tôi chẳng thấy cái khe nào cả.
- Cậu không thấy cái khe nào cả ư? Đây này, có
phải cái dây bè đứt trôi xuống dòng sông, rồi để cậu ở lại một mình với
chiếc xuồng trong sương mù không?
- Sương mù nào?
- Còn sương mù nào nữa. Sương mù phủ suốt cả đêm
đấy thôi. Thế cậu chẳng hú gọi và tôi hú trả lời là gì đấy. Rồi đến lúc
mình lạc lung tung cả ở trong cái hòn đảo này mà chẳng ai biết ai ở đâu
đấy ư? Rồi tôi bị đâm vào một cái bão rậm, loay hoay mãi suýt chết
đuối! Đấy, có phải thế không? Hay là không phải? Cậu trả lời tôi đi
- Ôi, thế thì tôi chịu Jim ạ. Tôi chẳng thấy gì
cả. Sương mù, rồi đảo, rồi lung tung các thứ, tôi chẳng thấy gì hết. Tôi
vẫn ngồi đây nói chuyện với anh suốt cả đêm cho đến lúc anh đi ngủ cách
đây mười phút, và tôi nghĩ là tôi cũng ngủ. Chắc anh uống rượu cho nên
ngủ mê thế nào ấy.
- Vô lý, làm thế nào mà tôi lại ngủ mê thấy tất cả những chuyện ấy trong mười phút được?
- Thôi đừng nói nữa. Đúng là anh ngủ mê rồi, vì chẳng có chuyện gì xẩy ra cả.
- Nhưng rõ ràng tôi thấy tất cả những cái đó cơ mà, cậu Huck
- Rõ ràng hay không rõ ràng tôi không biết, nhưng chẳng có gì cả. Tôi biết là đúng như vậy, vì suốt từ lúc đó tôi vẫn ở đây.
Jim lặng im đến năm phút không nói gì, chỉ ngồi đó nghĩ ngợi, Rồi hắn nói:
- Được, hãy cứ cho rằng tôi ngủ mê đi đã, cậu
Huck ạ, nhưng thật tôi thề rằng chưa bao giờ tôi ngủ mê lại ghê gớm như
vậy. Và chưa có lần nào ngủ mê xong mà người lại thấy mệt như lần này.
- ồ, không hề gì, một giấc mơ bao giờ cũng làm
cho người ta mệt mỏi. Nhưng cái giấc mơ này nghe nói cũng thú vị đấy;
anh kể lại cho tôi nghe đi, Jim.
Thế là Jim bắt đầu kể lại suốt từ lúc đó, đúng
như chuyện đã xảy ra, và Jim cũng thêm thắt vào đó khá nhiều nữa. Rồi
Jim bảo phải đoán nó ra như thế này, vì đó là thánh báo ứng. Hắn nói
rằng cái đầu khe thứ nhất là một người định giúp chúng tôi, nhưng dòng
nước lại là một người thứ hai muốn cắt đứt chúng tôi phải xa người kia.
Những tiếng hú thỉnh thoảng vẳng đến tai là những lời báo ứng đối với
chúng tôi, và nếu như chúng tôi không cố gắng tìm cách hiểu cho ra thì
chúng tôi có thể tránh được. Một lô những khe lạch khác là những khó
khăn tỏ rằng chúng tôi sắp sửa cái cọ với những người gây sự và tất cả
những người xấu khác. Nhưng nếu chúng tôi chú ý cẩn thận đến công việc
của mình, đừng có kể lại với ai đừng có làm cho nó rắc rối thêm, thì
chúng tôi có thể tránh được tai vạ, thoát khỏi đám sương mù, ra ngoài
sông quang đãng, và đó là những xự tự do; rồi từ đấy sẽ không gặp tai
họa gì nữa. Cái lúc tôi trở về bè thì mây đen đang kéo tới khá nhiều.
nhưng đến bây giờ thì trời lại sáng sửa rồi.
Tôi nói:
- Hay lắm, anh đoán như thế cũng được đấy, Jim
ạ. Nhưng mình còn để những cái này ở đâu làm gì? Tôi vừa nói vừa chỉ tay
vào những đám lá cây, củi rác ở trên bè với chiếc mái chèo vỡ. Bây giờ
những cái đó lại càng trông thấy rõ ràng. Jim nhìn đám củi rác, rồi nhìn
tôi, rồi lại nhìn đám củi rác. Hắn ta bị cái chuyện mơ ám ảnh trong đầu
qúa mạnh đến nỗi hình như không dám xua đuổi ngay nó đi để nhìn lại
những sự vật chung quanh cho đúng. Nhưng rồi sau khi hắn đã nhìn kỹ một
lượt những thứ đó, hắn nhìn trừng trừng vào tôi, không cười, và nói:
- Để làm gì ư? Rồi tôi nói cho cậu nghe đây này.
Sau khi tôi đã mệt qúa với chuyện loay hoay ở đó rồi mà gọi cậu mãi
không thấy, tôi mới đi ngủ, mà trong lòng tôi thì đau đớn vô cùng vì đã
mất cậu. Tôi cũng chẳng cần biết là tôi và cái bè sẽ ra sao nữa. Lúc tôi
tỉnh dậy thì thấy cậu lại trở về nguyên vẹn, tôi ứa nước mắt ra, có thể
quỳ xuống mà hôn chân cậu, vì tôi vui mừng quá đỗi. Vậy mà cậu lại có
thể bịa đặt ra để mà nói dối thằng Jim này. Cái đám kia là củi, là rác,
và đó là những cái bẩn thỉu mà người ta nhét vào đầu óc bạn mình để làm
cho bạn mình xấu hổ.
Rồi Jim lặng lẽ đứng dậy bước vào trong lều,
không nói thêm một câu nào nữa. Thôi thế là đủ qúa rồi. Tôi cảm thấy
mình thật xấu xa đến nỗi suýt nữa tội lại muốn cúi xuống hôn chân Jim để
hắn quay lại.
Đến mười lăm phút qua tôi mới đứng dậy được, đến
xin lỗi trước mặt một người da đen. Nhưng làm việc đó xong rồi không
bao giờ tôi còn phải ăn năn hối hận nữa. Về sau tôi không dám chơi đùa
Jim những kiểu bậy bạ như thế, và riêng về chuyện này, nếu tôi biết rằng
Jim nghĩ như vậy thì tôi đã không dám đùa.
Chương 16 :
Chúng tôi ngủ gần hết ngày, đến đêm lại
ra đi theo sau một cái bè lớn dài như một đám rước. Bốn góc bè có bốn
mái chèo to và dài, chúng tôi đoán bè phải chở đến ba bốn chục người.
Trên bè lại có năm cái lều to giữa có một cái bếp lộ thiên, rồi ở mỗi
đầu bè lại có một cột cờ thật cao nữa. Trông cái bè này thật là oai.
Trên những bè lớn như thế này, người chở bè hẳn là phải giá trị lắm.
Chúng tôi chèo đi và vẫn theo dòng sông tới một
nơi mênh mông. Về đêm mây kéo lên cao và trời đã bắt đầu nóng rực. Sông
rất rộng, và hai bờ kín đặc những cây to; nhìn rằng cây như chẳng thấy
có chỗ nào ánh sáng mặt trời lọt qua được. Chúng tôi nói chuyện với nhau
về Cairo, không biết đến bao giờ mới đến và trông thấy được Cairo được.
Tôi bảo hình như sẽ không tới được đâu, vì tôi nghe đồn ở đó chỉ có độ
hơn chục căn nhà và nếu như ban đêm họ không thắp đèn lên thì làm sao
chúng tôi biết rằng mình đi qua đó được? Jim nói đến chỗ nào có hai con
sông lớn gặp nhau là đúng đấy. Nhưng tôi bảo có lẽ mình đi vòng đằng đầu
một hòn đảo rồi lại quay lại con sông cũ hay sao ấy. Điều đó làm cho
Jim lo lắng - cả tối nữa cũng vậy. Cho nên vấn đề là: Bây giờ làm như
thế nào đây? Tôi bảo hễ cứ trông thấy ánh đèn là rẽ ngay vào bờ, nói với
người ta là bố tôi đi sau với một cái tàu buôn, và vì là một người mới
vào nghề nên không rõ Cairo còn bảo xa nữa. Jim cho đó là một ý kiến
hay. Thế là chúng tôi hút thuốc ngồi chờ.
Lúc này chẳng có việc gì làm mà chỉ chăm chú để ý
tìm thị trấn cho khỏi nhỡ đi qua mà không nhìn thấy. Jim bảo chắc chắn
là sẽ trông thấy, vì nếu trông thấy thì sẽ lại phải sống trong một xứ nô
lệ và không thể tìm thấy tự do nữa. Bỗng lát sau, hắn nhảy lên nói:
- Kìa kìa!
Nhưng không phải. Đó chỉ là ma trơi hay đom đóm
thôi. Rồi hắn lại ngồi xuống, chăm chú nhìn như trước. Jim bảo rằng khi
đã đến gần xứ tự do thì thấy người hắn run lên như sốt. Còn tôi, có thể
nói rằng điều đó làm tôi cũng run đến phát sốt lên khi nghe Jim nói như
vậy. Vì tôi cũng đã bắt đầu cảm thấy trong đầu hắn là người tự do nhất.
Và cái đo là tại ai? Tại tôi chứ ai. Trong ý thức tôi không thể hiều nổi
cái đó như thế nào và vì sao? Nó làm cho tôi băn khoăn mãi mà không sao
ngồi yên được, không thể đứng im một chỗ được. Trước kia có bao giờ tôi
quen thuộcc với ý nghĩa đó, mà bây giờ tôi đang nghĩ lại chính là cái
đó. Bây giờ, nó ám ảnh tôi, bam tay tôi và càng ngày càng làm cho bứt
rứt. Tôi cố tự nhủ rằng đó không phải là lỗi tại tôi, vì không phải
chính tôi làm cho Jim chạy trốn khỏi tay người chủ có quyền hành đối với
hắn. Nhưng không làm thế nào được, luôn luôn ý thức được rằng vẫn tỉnh
dậy và nói: mày phải biết rằng Jim nó trốn đi là vì tự do, và mày không
thể lên bờ mà nói với ai đựơc như vậy được. Thế đấy, tôi không có cách
nào tránh được ý nghĩ ấy. Và chính chỗ đó là chỗ nó xuất hiện. ý thức
lại bảo tôi: Cô Watson có làm gì mày đâu mà mày lại thản nhiên nhìn anh
da đen của cô ấy bỏ trốn và mày không hề nois một lời nào như vậy? Cái
người đàn bà tội nghiệp ấy đối xử với mày thế nào mà mày lại xử tệ với
người ta như thế? Người ta dạy mày học hành, dạy mày ăn ở, và đối đãi
với mày tốt đủ điều. Thế cơ mà? Tôi bỗng cảm thấy mình hèn quá, xấu xa
quá và chỉ muốn chết. Tôi bồn chồn đi lại trên bè, tự xỉ mắng mình; còn
Jim thì cũng sốt ruột đi đi lại lại như tôi. Cả hai người, chả ai giữ
được im lặng. Chốc chốc, hắn quay ngoắt người lại, nói: Cairo kia kìa!
Tiếng nói như phát đạn bắn xuyên qua người tôi. Và tôi cũng nghĩ rằng
nếu đó là Cairo thì có lẽ sẽ chết một cách khốn khổ.
Trong lúc tôi đang tự vấn mình thì Jim cứ luôn
miệng nói to. Hắn nói rằng sau khi tới một xứ tự do thì việc đầu tiên
hắn làm là sẽ đi gửi tiết kiệm và sẽ không bao giờ tiêu một đồng xu nhỏ.
Đến khi nào đủ tiền, hắn sẽ tậu người vợ hiện đang làm thuê cho ở một
cái trại gần nơi cô Watson ở. Rồi cả hai vợ chồng sẽ làm lụng để tậu lấy
hai đứa con về, nếu như chủ không chịu bán chúng nó thì sẽ nhờ một
người đi cướp chúng nó về.
Tôi nghe nói thế mà lạnh toát người. Từ xưa chưa
bao giờ hắn dám nói đến những chuyện ấy. Cứ thử nhìn cái phút mà hắn
cảm thấy trong người sắp được tự do nó khác trước như thế nào. Thật đúng
như câu phương ngôn người ta thường nói: Cho người da đen một tấc thì
hắn sẽ đòi một thước. Tôi nghĩ, cái này là do tôi không suy tính trước.
Đây là một người da đen mà tôi đã giúp cho hắn trốn đi, bây giờ hắn nhất
quyết nói rằng sẽ đi cướp con hắn về, con của ai tôi cững chẳng biết
nữa; một người da đen chưa bao giờ2 làm gì hại tôi cả.
Tôi rất tiếc thấy Jim nói như vậy. Thật là hèn
qua. ý thức của tôi trở lại kích thước tôi thêm sôi sục. Cho đến khi tôi
trả lời ý thức của tôi rằng: Được, cứ để đấy cho tôi, bao giờ cũng chưa
quá muộn. Nhìn thấy ánh đèn là tôi sẽ chèo ngay xuồng vào bờ và sẽ nói
ra.
Trả lời xong, tôi thấy dễ chịu, sung sướng, nhẹ
như một chiếc lông bay bổng. Bao nhiêu những cái bứt rứt đều tiêu tan
cả. Tôi quay ra chăm chú nhìn ánh đèn, trong bụng thầm vui. Lát sau, có
ánh sáng loé lên. Jim hét lên;
- Yên trí rồi, cậu Huck ơi, nhảy lên đi, nhảy lên đi. Đây đúng là Cairo của ta đây rồi, tôi biết lắm.
Tôi nói:
- Để tôi lấy xuống đi xem, Jim ạ. Nhưng không chắc đâu, Jim biết không?
Hắn chạy ra sửa soạn chiếc xuồng, cởi bỏ áo cũ
của hắn lót xuống vào tôi ngồi, rồi đưa mái chèo cho tôi. Tôi vừa đi,
hắn nói theo:
- Chẳng mấy chốc tôi sẽ được hét lên vì sung
sướng, và tôi sẽ nói: Tất cả là nhờ ở cậu Huck. Tôi là người tự do, và
nếu như không có Huck thì tôi không thể nào tự do; chính Huck đã tạo ra
cái tự do đóe cho tôi. Jim tôi sẽ không bao giờ quên cậu Huck, cậu là
người bạn tốt nhất mà tôi chưa có bao giờ, và bây giờ đây, cậu là người
bạn duy nhất của Jim.
Tôi chèo xuồng đi, nóng ruột muốn đem chuyện này
nói ra nhưng khi nghe hắn nói những lời ấy thì hình như ruột gan tôi bị
bật cả ra ngoài. Tôi chậm chạp chèo đi, và tôi không tin rằng tôi vui
lòng hay không vui lòng mà đi đây. Cách xa độ dăm chục thước, Jim lại
nói:
- Cậu chính thật là cậu Huck, cậu là người da trắng duy nhất đã giữ lời hứa với Jim đấy.
Tôi cảm thấy đau lòng. Nhưng tôi lại tự nhủ:
phải làm việc đó, không thể đứng được. Ngay lúc đó có một chiếc thuyền
chở hai người đi tới, tay cầm súng. Họ dừng lại, tôi cũng dừng lại. Một
người hỏi:
- Cái gì đằng kia?
Tôi đáp
- Bè đấy
- Cái bè đó là của mày hả?
- Đúng vậy
- Có người nào trên ấy không?
- Dạ chỉ có một người thôi
- Có năm tên da đen vừa chạy trốn về phía trên kia, ở chỗ đầu sông ấy. Cái người của mày da trắng hay đen?
Tôi không trả lời ngay được. Tôi định trả lời
nhưng không nói ra được. Trong một hai giâu tôi lúng túng chẳng ra thế
nào, không ra ngoài nữa, không co cái gan của một con thỏ. Tôi thấy mình
đã yêu mềm quá rồi. Tôi đành thôi không dám nghĩ như lúc nãy nữa và
nói:
- Da trắng
- Để chúng tạo tự đi xem
Tôi nói:
- Vâng, mời các ông đi xem, vì đó là bố tôi đang
ở trên ấy. Và có lẽ nhờ các ông đẩy giúp cái bè lên chỗ có ánh đèn. Ông
ấy ốm, cả mẹ tôi và cô Mary Anne cũng vậy.
- ồ, quỉ quái, chúng tao còn đang vội đây. Nhưng có lẽ chúng ta cũng nên giúp một tý. Đim cầm lấy mái chèo đi.
Tôi cầm mái chèo đẩy thuyền đi. Họ cũng đi. Chèo được vài ba nhát, tôi nói:
- Bố tôi sẽ cảm ơn các ông lắm đấy. Nhờ ai giúp để đẩy vào bờ họ cũng đều bỏ đi cả, mà mình tôi thì không làm nổi.
- ồ, cái đóe bao giờ cũng thế. Thật là tệ. Này, chú bé, bố mày ốm thế nào?
- ờ... ờ... cũng chẳng có gì nguy lắm
Họ dừng tay. Chỉ còn một quãng ngắn nữa là đến bờ. Một người nói:
- Bé con, mày nói dối. Bố mày làm sao? Trả lời cho thật không thì đừng trách tao
- Vâng, tôi... thưa ông, tôi nói thật... nhưng
xin các ông đừng bỏ chúng tôi. Vì là... vì đó là... các ông ơi, các ông
đi trước đi, để tôi đi sau rồi vứt cái đầu dây cho, các ông chớ lại gần
bè, xin chờ!
- Lùi thuyền lại, John, lùi lại - Một người nói.
Họ chèo thuyền lui lại. Tránh xa ra, bé con - tránh sang bên đi, mau
lên. Đồ con khỉ, không khéo gió lại thổi cái của ấy vào chúng tao rồi
đấy. Bố mày mắc bệnh đậu mùa, chắc hắn là mày biết rồi. Sao mày không
nói ngay. Mày muốn cho bệnh nó lan ra hay sao?
Tôi lắp bắp trả lời:
- Không, không ạ, lúc trước tôi đã nói với mọi người rồi, họ lảng đi, họ bỏ mặc chúng tôi.
- Khổ chưa, chắc có chuyện gì đó thôi. Chúng tao
thấy mày mà thương hại quá, nhưng chúng tao... Thôi mặc kệ, khômg nói
nữa chúng tao không muôn bị lây bệnh đậu mùa, nghe không? Đây này, tao
bảo đừng có lên bờ, mày lên bờ thì sẽ lây bệnh lung tung cả. Hãy chèo
xuồng phía dưới kia độ hai mươi dặm rồi sẽ đến một thị trấn ở bờ bên
trái. Lúc đó là sáng rồi. đến khi nào nhờ người ta đoán là bệnh đậu mùa,
nghe không. Thôi, bây giờ chúng tao sẽ giúp mày một việc. Mày cứ dọc
theo đây xuôi thuyền xuống đó nhé, mày cũng là đứa bé ngoan đấy. Không
nên lên bờ chỗ có ánh đèn kia làm gì, đấy chỉ là cái làn gỗ thôi. Này,
có lẽ bố mày nghèo lắm phải không, chắc lão ta gặp nhiều chuyện rủi ro
đấy. Đây này, tao để cho một đồng tiền hai người đô lă bằng vàng trên
miếng ván đây này, nó trôi đến chỗ mày thì với tay sang mà lấy. Bỏ mặc
mày thì thật tệ quá, nhưng lạy chúa, tao sợ bị lây bệnh đậu mùa, mày
hiểu không?
Người đó laị nói:
- Khoan đã, Packer. Này, để đồng tiền hai mười
đô là lên miếng ván hộ tôi. Thôi, chào chú bé nhé, cứ làm như ông Packer
đã bảo mày thì yên trí
- Đúng đấy. Thôi chào chú, chào chú. Nếu chú mày
trông thấy tên da đen nào chạy trốn thì kêu người ta bắt lấy nó, như
vậy sẽ được tiền đấy.
Tôi đáp:
- Vâng, chào các ông. Nếu tôi thấy tên da đen nào thì tôi sẽ không để cho nó chạy đâu.
Họ đi rồi, tôi mới trở về bè, cảm thấy mình xấu
xa, hèn hạ quá, vì tôi biết rất rõ rằng mình đã làm một việc sai lầm.
Tôi thấy rằng đối với tôi nếu có học làm điều gì phải thì cũng đến vô
ích thôi, một người lúc bé không tập làm điều gì phải thì lớn lên cũng
chẳng ra gì. Sau này gặp những lúc khó khăn thì chả có ai giúp đỡ hoặc
làm cho ăn gì, lại còn có thể bị đánh đập nữa. Tôi suy nghĩ một phút,
rồi tự nhủ: nếu như lúc nãy mình làm điều không phải là đưa Jim ra, thì
có phải bây giờ thấy dễ thở hơn không? Nhưng tôi lại nói: Không. Nếu như
thế thì mình sẽ thấy khổ tâm chứ, sẽ thấy bứt rứt như chính bây giờ
mình đang bứt rứt rồi đây. Rồi tôi lại tự bảo: học làm điều phải để làm
gì trong khi làm điều phải thì khổ tâm và làm điều trái thì không thấy
phiền lòng gì cả. Mà lợi lộc thì có phải hai đằng cùng như nhau không?
Tôi thấy bí, không trả lời được câu đó. Sau cùng tôi nghĩ chẳng tội gì
mà bận tâm về chuyện ấy nữa. Tuy thế nhưng về sau nó vẫn cứ luôn luôn
quanh quẩn trong đầu óc.
Tôi bước vào trong lều. Jim không có đấy. Tôi tìm quanh, không thấy. Tôi gọi:
- Jim!
- Tôi đây, cậu Huck ơi. Họ đi xa chưa? Cậu đừng nói to.
Thì ra Jim núp ở dưới sông, dưới mài chèo đằng
sau lái, chỉ thò cái mũi lên trên mặt nước. Tôi bảo hắn là họ đi xa rồi,
hắn mới trèo lên. Jim nói:
- Tôi nghe suốt cả câu chuyện, tôi mới luồn
xuống sông và định bơi vào bờ nếu như họ lên bè. Nhưng sau thấy họ đi
rồi tôi quay lại. Nhưng cậu làm thế nào mà đánh lừa được họ tài thế, hả
cậu Huck? Giỏi thật đấy cậu ạ. Như thế là cậu lại cứu Jim một lần nữa.
Jim không thể nào quên được cái đó đâu, cậu Huck ạ.
Rồi chứng tôi bàn với nhau về chuyện tiền. Thật
là một món tiền lớn đấy chứ, những hai mươi đô la. Jim bảo bây giờ có
thể lấy vé đi thuỷ được, và số tiền đó đủ có thể đi đến những xứ tự do.
Hắn bảo vài chục dặm thì đi bè cũng chả mấy, nhưng muốn đến nơi mau hơn
nữa cơ.
Đến lúc trời tảng sáng, chúng tôi buộc bè lại và
Jim đi tìm chỗ giấu rất khéo. Rồi suốt ngày hắn cú cặm cụi buộc đồ đạc
thành từng bọc và sẵn sàng để rời bỏ chiếc bè.
Khoảng mười giờ đêm hôm đó, chúng tôi nhằm phía
có anh đèn thị trấn ở bờ sông bên trái. Tôi xuống xuồng chèo ra hỏi
thăm. một chốc, gặp một người đi chiếc thuyền con ra sông để mặc dây
câu. Tôi đến gần hỏi:
- Ông ơi, có phải chỗ thị trấn kia là Cairo không?
- Cairo nào ở đâu. Không! Mày điên hay sao thế?
- Thế là cái gì hả ông?
- Nếu muốn biết thì đi đến đó mà hỏi. Mày mà còn ở đây quấy rầy tao chỉ nửa phút thôi thì cũng đừng có trách tao.
Tôi quay trở về bè, Jim thất vọng vô cùng, nhưng tôi bảo không sao, chỗ sắp tới có thể là Cairo rồi.
Chúng tôi lại đi qua một thị trấn khác trước khi
trời sáng. Và tôi lại mò ra ngoài, nhưng chỗ này thì chỉ có núi, tôi
không đi nữa. Jim bảo là ở Cairo không có núi đồi gì đâu. Tôi cũng quên
đi mất. Ban ngày chúng tôi lại nghỉ ở một cái hốc ở bãi bên trên bờ
sông. Tôi bắt đầu ngờ ngợ một cái gì. Jim cũng thế. Tôi nói:
- Hay có lẽ chúng mình đã đi qua Cairo trong cái đêm sương mù ấy rồi Jim.
- Đừng nói chuyện ấy nữa, cậu Huck. Những người
da đen nghèo khổ chả lẽ không bao giờ gặp may mắn cả ư. Tôi vẫn nghĩ
rằng cái da rắn lột lấy chưa đến lúc đó báo oan đâu đấy.
- Giá như trước kia đừng nhìn vào cái da rắn ấy có phải tốt không Jim nhỉ. Tôi nghĩ giá như đừng nhìn vào nó thì hơn.
- Cái đó không phải lỗi ở cậu đâu, cậu Huck. Vì là cậu không biết đấy chứ. Cậu đừng tự trách mình như vậy.
Trời sáng rõ. Đây đúng là nước xanh của con sông
Ohio chảy vào phía trong này, và ngoài kia là bãi Muddy. Thôi thế là đi
tong chuyện đi Cairo.
Chúng tôi bàn tính với nhau mãi. lên bờ bây giờ
thì không nên. Đẩy bè đi ngược dòng thì cố nhiên là không đi được. Chẳng
có cách nào khác, chỉ chờ đến đêm, xuống xuồng đi quay lại xem mày ra
có gì chăng. Thế là suốt ngày chúng tôi ngủ trong rừng rậm, để lấy lại
sức. Cho đến chập tối quay ra chỗ giấu bè thì thấy chiếc xuồng đã biến
mất.
Chúng tôi lặng người đi một lát, không nói.
Chẳng còn biết nói gì nữa. Cả hai đứa chúng tôi đều hiểu rằng đấy là cái
da rắn nó báo oan đây, vậy thì còn nói đến nó làm gì nữa. Lúc đó thật
đúng như chúng tôi đã làm một cái gì tội lỗi, và nghĩ rằng sẽ còn gặp
chuyện rủi roi nữa đây. Nghĩ mãi và cả hai đứa cứ lặng im hoài.
Nhưng rồi lát sau, chúng tôi lại bàn tính với
nhau nên xem làm thế nào. Và không tìm được cách nào hơn là cứ phải chèo
bè đi xuôi nữa cho đến lúc nào may ra tậu được chiếc xuồng đã rồi mới
quay trở lại. Chúng tôi không muốn đi mượn xuồng, vì quanh đó chẳng có
ái. Giá bố tôi thì đã đi mượn rồi đấy, nhưng mượn cái kiểu như thế người
ta sẽ biết và đuổi theo.
Lúc trời đã tối, chúng tôi lại bò ra bè.
Những ai còn chưa tin rằng mó tay vào cái da rắn
lột là một điều hết sức dại dột và sau đó cái da ráng nó sẽ báo hại như
thế nào, thì bây giờ cũng sẽ phải tin, nếu như người ta thấy tình cảnh
của chúng tôi lúc này.
Chỗ có thể mua xuồng được là chỉ gần nơi nào ở
bờ sông có nhiều bè đóng lại ở đó. Nhưng chúng tôi không thấy chỗ nào có
nhiều bè đóng lại cả, nên cứ phải tiếp tục đến hơn ba tiếng đồng hồ.
Đêm đã bắt đầu ngả sang màu xám mờ mờ, và đó là dấu hiệu lại sắp có
sương mù. Không thể nào nhìn rõ hơn bờ sông chỗ lồi chỗ lõm, và cũng
không nhìn ra xa được nữa. Đêm đã khuya lắm và yên tính. Lúc đó bỗng có
chiếc tàu thủy đang đi ngược dòng lên phía trên. Chúng tôi thắp đèn lên
và nghĩ rằng chiếc tàu thuỷ sẽ trông thấy mình. Những tàu đi ngược dòng
thường không bao giờ đi sát chúng tôi, họ đi cách xa tận phía ngoài và
theo những chỗ nào mà dòng nước ở bên dưới không chảy xiết lắm. Nhưng
vào những đêm mù như thế này thì họ cứ đi thẳng tuột.
Chúng tôi có thể nghe rõ tiếng lịch xịch nhưng
không trông thấy rõ tàu thuỷ trước khi nó tới gần. Chiếc tàu như đang
nhằm thẳng phía chúng tôi đi lên. Thường thường họ vẫn làm như thế để
thử xem họ có thể đi sát tới mức nào mà vẫn không chậm. Có khi cái guồng
tàu của họ đập gẫy mất một mái chèo của người ta rồi, lúc đó anh lái
tàu lại còn thò đầu ra cười. tưởng như vậy là hay lắm. Chiếc tàu thuỷ
tiên đến, chúng tôi bụng bảo dạ có lẽ nó định liếm mình đây, mà hình như
nó không có vẻ gì là tránh ra cả. Chiếc tàu to lắm, lại đi nhanh nữa,
trông như một đám mây to đen tua tủa những guồng và có những con đom đóm
ở xung quanh. Nhưng rồi bất thình lình nó quặt ra, trông lù lù khung
khiếp, với một dãy cửa sáng lên trông như một hàm răng lớn đỏ chót, với
những guồng những mái muốn ụp cả lên đầu chúng tôi. Có tiếng thét gọi,
rồi một hồi chuông lắc vang lên để hãm mãy lại, những tiếng càu nhàu
chửi, tiếng máy rít, và vừa lúc Jim nhảy sang một bên, tôi cũng nhảy
sang một bên, thì chiếc guồng tàu đã quật thẳng cái bè của chúng tôi vỡ
tan.
Tôi lao người xuống nước và lặn sâu xuống đấy
sông, vì chiếc guồng to đến tám chín thước như thế có thể đập vào đầu
mình chưa biết chừng, và tôi cũng cần phải tránh cho thật xa. Tôi có thể
lặn ở dưới nước đến một phút, nhưng lần này tôi tưởng là mình đã ở đáy
nước đến một phút rưỡi. Rồi tôi ngoi lên mặt nước, vì đã gần nghẹt thở.
Tôi đưa tay lên nhay nhay cho nước ra khỏi lỗ mũi, xì xì vài cái. Cố
nhiên là ở chỗ này nước cuốn, và chiếc tàu kia chỉ sau độ mười giây là
chạy máy như thường, vì có bao giờ họ thèm biết đến số phận những người
đi trên thuyền bè ra sao. Lúc đó, chiếc tàu lại lạch xạch đi, rồi mất
hút trong đám sương mù, mặc dầu tiếng máy vọng lại tôi vẫn còn nghe
thấy.
Tôi lên tiếng gọi Jim đến hàng chục lần, nhưng
không thấy trả lời. Sau tôi bám lấy một mảnh ván gần đó, rồi lấy chân
đạp nước bơi vào bờ, đẩy mảnh ván đi trước. Nhưng bỗng tôi nhận ra nước
cuốn về phía bờ bên trái, nghĩa là tôi đang đi ngược, nên tôi lại quay
lại bơi theo dòng nước chảy. Qua sông dài đến hai dặm, xa lắcm, phải lâu
lắm mới qua được. Tôi vào đến bờ sông, yên ổn, rồi trèo lên bãi. Trước
mặt chỉ thấy có một con đường nhỏ, nhưng tôi cứ lò dò đi trên đám đất gồ
ghề một quãng đến non nửa dặm, đi ngang một toà nhà xây kiểu cổ, có hai
nếp, từ lúc nào mà không hay.
Tôi vừa định vượt lên chạy qua đó thì một đàn chó ở đâu chay ra cứ nhè tôi mà sửa ầm lên. Tôi biết là lại sắp nguy nữa rồi đây.
chương 17 :
Chừng 1 tiếng sau, có người trong cửa sổ mà không thò đầu ra , nói :
- Làm cái gì thế? Ai đấy?
chương 17 :
Chừng 1 tiếng sau, có người trong cửa sổ mà không thò đầu ra , nói :
- Làm cái gì thế? Ai đấy?
Tôi trả lời:
- Cháu đây
- Cháu là ai?
- Thưa ông, cháu là George Jackson
- Muốn gì?
- Cháu chẳng muốn gì cả, ông ạ. Cháu chỉ muốn đi qua, nhưng mấy con chó này không để cháu đi.
- Đêm hôm thế này, mò mẫm ở đây làm gì thế?
- Thưa ông, cháu không có mò mẫm gì đâu. Cháu ở trên tàu thủy vừa bị ngã xuống sông đây mà.
- Ô, thật thế ư? Có ai thắp cái đèn lên tí nào. Anh bảo tên anh là gì nhỉ?
- George Jackson, ông ạ. Cháu chỉ là một cậu bé thôi.
- Này, cứ nói thật đi, không việc gì mà sợ.
Không ai đánh đâu. Nhưng mà đừng có nhúc nhích. ở đâu đứng yên đấy. Bod,
Tom, có đứa nào dậy đem cái súng ra đây. George Jackson có ai đi cùng
với mày nữa không?
- Không ạ, không có ai cả
Tôi nghe tiếng người lục sục trong nhà, rồi thấy có ánh sáng bật lên. Tiếng người khi nãy nói:
- Cho lui cái đèn ra xa kia, Betsy, sao mà ngốc
thế, không biết gì cả. Để cái đèn ở trên sàn, ngay sau cửa ra vào ấy.
Bod, Tom chúng mày đã sẵn sàng cả chưa, ngồi vào chỗ.
- Sẵn sàng cả
- Nào, George Jackson, mày có biết họ nhà Shepherdsons không?
- Không, ông ạ, tôi chẳng nghe nói đến cái tên đó bao giờ
- Được, có thể là mày chưa nghe nói đến, cũng có
thể là nghe nói đến rồi. Thôi được, sẵn sàng cả rồi đấy. Bước lên,
George Jackson. Coi chừng, không được hấp tấp, bước thật chậm. Nếu có ai
đi cùng với mày thì phải để nó đứng lại, nó mà bước lên sẽ bị hắn chết.
Nào tiến lên, chậm chứ. Tự tay đẩy cánh cửa ra, vừa để lách vào thôi,
nghe không?
Tôi không hấp tấp bước lên, mà có muốn cũng
không được. Mỗi lần chỉ bước vào một bước chậm và không có tiếng đông
nào, chỉ nghe thấy tim tôi đập. Lũ chó cũng im lặng như bọn người, chúng
nó theo sau cách tôi một tí. Bước đến bực cửa, tôi nghe tiếng mở khoá,
nhấc cái thang chắn cửa ra và rút then cài. Tôi đặt tay lên cửa, nhẹ đẩy
một tí, một tí một. Rồi có tiếng nói:
- Thế thôi, được rồi, thò đầu vào. Tôi đưa đầu vào, nhưng trong bụng vẫn lo, sợ họ chặt mất đầu.
Ngọn nến để trên sàn nhà, và họ đã đứng cả quanh
đó. Họ nhìn tôi, tôi cũng nhìn họ đến gần nửa phút: ba người to lớn cầm
súng trong tay lăm lăm chĩa vào tôi, làm tôi rợn cả người, thật đấy.
Người nhiều tuổi nhất, tóc đã hơi bạc, chạc độ sáu mươ; người thứ hai
quãnh ba mươi hay hơn, cả hai đều trông đẹp, chững chặc. Và một người
đàn bà đứng tổi, tóc hoa râm, khuôn mặt nhỏ nhắn. Đứng sau người đàn bà
là hai thiếu phụ còn trẻ mà tôi nhìn không được rõ lắm. Người đàn ông
cao tuổi nói:
- Thế, được rồi. Bước vào đi
Tôi vừa bước vào thì người đó đã khoá tịt ngay
cửa lại, cái then chặn cả thang ngang, rồi bảo người đàn ông trẻ mang
súng đến. Cả bọn bước vào phòng bên có trải một cái thảm mới, rồi chụm
lại một góc gần cửa sổ thông rả đường, không còn ai đứng lại đó nữa. Rồi
họ cầm cây nên lên, nhìn tôi cẩn thân và nói:
- ồ, nó không phải là Shepherdsons. Nó chẳng có
vẻ gì là Shepherdsons cả. Rồi người nhiều tuổi bảo tôi đừng ngại để cho
họ lục soát xem có vũ khí gì không đã - vì không phải là có ý gì hại tôi
đâu, mà chỉ là để cho chắc chắn đó thôi. Lão ta không thọc tay vào túi
tôi mà chỉ lần lần ở bên ngoài thôi, rồi bảo: được rồi. Lão bảo tôi bây
giờ cứ tự nhiên như ở nhà, với lại nói đủ các thứ về tội nữa. Nhưng
người đàn bà đứng tuổi nói:
- Chết chửa, này ông Saul, thằng bé ướt đẫm cả người thế này. Mà có lẽ nó cũng còn đói nữa chứ?
- ừ, phải đấy, Rachel ạ, tôi quên mất.
Người đàn bà nói:
- Betsy (đây là một người đàn bà da đen), chạy
đi kiếm cái gì cho nó ăn, khổ tội nghiệp cậu bé, còn một cô đi gọi Buck
dậy, bảo nó, à thôi, nó đây rồi. Buck, đem cậu bé này đoi cởi quần áo
ướt ra và lấy đồ nào khô của mày ra mặc vào cho nó.
Trong Buck cũng trặc tuổi tôi, mười ba hay mười
bốn gì đó, tuy hắn hơi to lớn hơn tôi một chút. Nó chỉ mặc mỗi cái áo sơ
mi, và đầu tóc thì rất bẩn. Nó bước đến. miệng ngáp và lấy ngón tay dụi
mắt, còn tay kia kéo lê khẩu súng. Nó hỏi:
- Không có bọn Shepherdsons ngoài đó chứ?
Cả đám người nói:
- Không, báo động giả đấy thôi
Nó nói:
- Tưởng nếu có bọn ấy thì tôi đã vớ được một đứa
Cả bọn cười. Bod nói:
- Này, Buck, nhưng mà mày đến chậm quá, có thểe chúng nó chụp hết cả bọn mình đấy.
- Sau tối không còn ai nữa ư? Như thế không được. Bao giờ tôi cũng bị tụt lại thế này, chả được thấy gì cả.
Yên trí, Buck con ơi - Lão kia nói. Rồi mày sẽ tha hồ, đừng lo. Thôi cư đi đi, làm theo mẹ mày bảo đi đã
Chúng tôi lên gác, vào buồng với thằng Buck, nó
đưa mặc vào. Mặc xong, nó hỏi tên tôi là gì, tôi chưa nói thì nó đã chỉ
cho tôi xem một con sáo sậu với một con thỏ nó vừa mới bắt được trong
rừng hôm kia, rồi nói hỏi tôi rằng cái lúc tắt nến thì Moses ở đâu.
Tôi bảo tôi không biết và cũng chưa nghe nói cái đó bao giờ. Nó bảo:
- Thế mày thử đoán xem
Tôi trả lời:
- Tao làm thế nào mà đoán được, vì tao đã nghe nói bao giờ đâu
- Nhưng mày có thể đoán được chứ, dễ lắm
Tôi hỏi:
- Cây nến nào? Tao không biết nó ở đâu cả. ở đâu?
- Ô hay, trong chỗ tôi ấy chứ ở đâu
- à, nếu mày biết là ở đâu rồi thì còn phải hỏi tao làm gì nữa?
- Mẹ kiếp, đó là một câu đố, mày không thấy à?
Này, mày định ở lại đây bao lâu? Mày phải ở đây mẵi nhé. Chúng mình tha
hồ đi săn bắn, bây giờ không phải đi học nữa. Mày có con cho nào không?
Tao có một con chó, đưa nó ra ngoài sông, nếu tao ném cái gì ra sông thì
nó sẽ bơi ra nhặt về được. Mày có thích đi sục sạo ngày chủ nhật không?
Và chạy lung tung chơi các thứ như vậy không? Chắc mày không thích hả,
nhưng tao thích lắm. Mày mặc cả những cái này vào nữa đi. Có lẽ tao cũng
mặc thêm vào nữa. Nhưng thôi, nóng quá. Xong chưa? Được rồi, thôi đi đi
ông bạn.
Bánh mì nguội, thịt bò cũng nguội. Rồi bơ, bánh
sữa. Họ đã chuẩn bị sẵn cho tôi những thứ đó. Và như vậy còn tốt hơn
những cái tôi đã được ăn từ trước đến nay nhiều lắm. Buck, và mẹ nó, và
cả nhà đều hút thuốc bằng những cái tẩu con, trừ có người đàn bà da đen
lúc nãy với hai thiếu phụ. Cả nhà vừa hút vừa nói chuyện. Tôi cũng vừa
ăn vừa nói. Hai thiếu phụ ngồi giữa đống cuộn sợi, tóc xoã xuống sau
lưng. Người nào cũng hỏi chuyện tôi. Tôi kể lại nào là bố tôi với gia
đình sống ở một cái trang trại nhỏ ở tít đằng cuối vùng Arkansaw. Chi
tôi là Mary Ann bỏ đi lấy chồng và không biết tin tức gì nữa. Rồi Bill
lại đi tìm hai vợ chồng chị tôi cũng không tin gì về. Còn Tom và Mort
thì chết rồi; về sau cả nhà chỉ còn có bố tôi với tôi, mà bố tôi thì rồi
khó khăn sa sút chẳng còn gì; vì thế sau khí bố tôi chết, tôi nhặt
nhạnh mấy thứ để lại mà đi. Vì cái trại đó không phải là của nhà chúng
tôi nên mới bỏ ra ngoài sông đáp tàu thuỷ, chẳng may thế nào đi đường
tôi bị rớt xuống sông thành ra mới mò tới đây. Họ bảo tôi cứ coi đây như
ở nhà và muốn ở lại đến bao giờ cũng được. Lúc đó đã gần sáng, mọi
người đi ngủ cả, tôi cũng đi ngủ với Buck, lúc tỉnh dậy đã muộn, và tôi
quên khuất đi mất tên mình là gì, thế có chết không chứ. Tôi nằm đó đến
một giờ đồng hồ, cố nghĩ lại xem. Lúc Buck thức dậy tôi hỏi:
- Buck, mày có đánh vần được không?
- Được, nó đáp
- Tao chắc mày không đánh vần nổi tên tao đâu, tôi nói thế. Nó trả lời:
- Tao bảo cái gì mày dám làm thì tao cũng làm được
- ừ, thế mày thử đánh vần đi tao xem nào
- G-e-o-r-g-e. J-a-c-k-s-o-n, đó mày xem
- Khá lắm, đúng đấy. Tao cứ tưởng mày không đánh
vần được. Cái tên ấy cũng không đến nỗi lủng củng khó đánh vần cho lắm,
có thể đọc được ngay không cần phải nghĩ ngợi.
Tôi nhớ kỹ trong bụng, để nhỡ chốc nữa có ai bảo
tôi đánh vần thì tôi cũng có thể nói ngay được nhanh chóng, ra vẻ như
tôi đã quen với tên mình lắm.
Đây là một cái gia đình khá tốt bụng. Và cái nhà
này cũng hết sức là xinh xắn nữa. Tôi chưa thấy cái nhà nào ở vùng này
xinh đẹp và kiểu cách như nhà này. Trên cửa ra vào không có chốt bằng
sắt hay bằng gỗ buộc vào miếng dây da hoẵng, nhưng lại có cái núm bằng
đồng để quay, uy như những nhà ở thành phố. Trong phòng khách không kể
giường ngủ cũng không để cái gì khác làm giường cả. Có rất nhiều phòng
như thế ở ngoài tỉnh họ kê giường cả. Có một cái lồ sưởi to, ở dưới lót
gạch, và gạch ở chúng quanh rất sạch sẽ, đỏ chót, vì là họ đổ nước lên
đó rồi lấy gạch khác kỳ cọ đi. Có khi người ta lại sơn lên một nước sơn
đỏ, thường gọi là màu nâu Tây Ban Nha, y như những căn nhà ngoài thành
phố. Có những con chó to bằng đồng có thể đội được cả cột nhà. ở giữa bẹ
lò sưởi có một cái đồng hồ, một bức tranh phong cảnh thành phố vẽ vào
một nửa dưới miếng kính, rồi một cái khoang tròn ở giữa để làm mặt trời,
sau miếng kính đồng hồ ấy có thể trông thấy quả lắc đưa đi đưa lại.
Nghe cái đồng hồ đánh chuông hay lắm, thỉnh thoảng, một anh chàng lái
rong nào đí đi qua, vào lau chùi nó và điều chỉnh nó cho đúng chỗ tức
thì nó đánh liền hồi một trăm năm mười tiếng cho tới khi được tháo ra.
Chủ nhà chả dễ gì bán nó với bất cứ một cái giá nào đâu.
Rồi hai bên đồng hồ lại có con vẹt trông rất lạ. làm bằng một thứ gì như phấn son, sơn màu sặc sỡ.
Cạnh con vẹt bên này có một con mèo bằng sứ, còn
bên kia có con chó bằng sứ; mỗi khi ấn vào đầu nó một cái thì nó kêu oé
lên một tiếng, nhưng lại không há miệng ra, mà cũng chẳng tỏ ra tức
giận hay vui mừng gì cả. Nó kêu ở dưới *********. Vì có hai cái quạt làm
bằng lòng cánh con gà rừng lắp ở phía sau. Trên bàn để giữa phòng có
một cái âu bằng sứ trông thấy rất đẹp, chất đầy những táo, cam, đào,
nho, trông đỏ đỏ vàng vàng và đẹp hơn những quả thường; nhưng đó không
phải hoa quả thật và có thể trông thấy những chỗ đã bong lần vỏ ngoài
trơ cả đất trắng ở trong ra.
Trên mặt bàn phủ một chiếc khăn trải bàn bằng
vải dầu, đẹp, ở giữa khăn vẽ con chim ưng xanh đỏ, chung quanh sơn một
đường viền. Họ bảo là chiếc khăn đó mang từ Philadelphia về. Cũng có một
ít sách nữa, xếp cẩn thận ở mấy góc bàn. Một quyển là cuốn kinh thánh
trong vẽ rất nhiều tranh ảnh. Một quyển là cuốn Những bước đường của
Pilgrim nói về một người bỏ nhà đi mà không nói tại sao. Thỉnh thoảng
tôi vẫn đọc cái truyện này. Nhưng lời nói trong đó khá hay, nhưng phải
cái hơi cục cằn. Một quyển khác là cuốn Hy sinh vì bạn, trong đó có rất
nhiều truyện hay, thơ hay, nhưng tôi không đọc thơ. Một cuốn là Những
bài diễn văn của Henry Clay, rồi một cuốn nữa là Y học trong gia đình
của bác sĩ Gunn, trong đó nói về tất cả những gì ta phải làm khi trong
nhà có người ốm đau hoặc chết. Rồi lại có một quyển sách về những bài
hát mừng Thánh, và một lô những sách khác nữa. Lại có những chiếc ghế
con rất xinh, chân đóng choẵi ra, và ngồi rất vững, ở giữa mặt ghế không
trũng mà cũng không sổ tụt như một cái rỗ cũ.
Họ có cả tranh treo trên tường - nhất là tranh
vẽ Wasingtons là Lafayettes vẽ những trận đánh nhau, vẽ cao nguyên Mary,
và một bức tranh gọi là Ký bản Tuyên ngôn. Có một số bức tranh mà gọi
họ là ký hoạ, trong đó vẽ hình một trong những người con gái ở gia đình
này đã chết rồi, đó là cô ta tự vẽ hồi mới mười lăm tuổi. Những tranh
này khác với mọi bức tranh mà trước đây tôi vẫn thường thấy - nó phần
nhiều là đen hơn tranh thường. Một cái vẽ người đàn bà mặc áo đen mỏng,
thắt nhỏ dưới cánh tay, với những miếng xoè ra như bắp cải ở giữa cổ tay
áo, với một cái mũ chụp lên đầu có mảnh voan đen xoà xuống, với hai cổ
chân trắng chung quanh quấn dây đen, đeo đôi giầy đen chỉ nhỏ bằng những
lưỡi dao trổ; người đàn bà trong tranh cúi xuống buồn bã, bên một cái
bia mộ ở phía bên phải, dướie một cây liễu tủ, còn tay kia thì cầm chiếc
khăn trắng với một cái giỏ đan; dưới bức tranh viết rằng: Hỡi ơi, em
không bao giờ còn được thấy anh nữa!. Còn một bức tranh khác thì vẽ
người đàn bà trẻ tuổi, có bao nhiêu tóc chải ngược hết cả trên đỉnh đầu,
rồi thắt nút ở đằng trước bừng một cái lược trông như cái lưng ghế dựa,
bà ta đang khóc, mặt úp vào chiếc khăn, lại có một con chim chết nằm
ngửa trên tay kia, hai chân ngổng ngược, rồi ở dưới tranh thì viết: Hỡi
ơi, ta sẽ không bao giờ còn được nghe mi hót nữa! Rồi lại có một bức
tranh khác vẽ một người đàn bà trẻ tuổi ngồi bên cửa sổ nhìn trăng, nước
mắt chảy ròng ròng xuống má: một tay cầm bức thư mở sẵn, có dấu triện
đen ở một bên bức thư, đưa chiếc khung ảnh nhỏ có một sợi dây lên miệng
cắn; dưới tranh thì để là: Có phải anh ra đi chăng, hỡi anh, anh ơi rồi!
Những bức tranh ấy đều đẹp cả, tôi chắc thế, nhưng hình như tôi không
thích lắm. Vì hễ cứ lúc nào tôi buồn thì nó lại làm cho tôi thấy nặng nề
thêm. Ai cũng lấy làm tiếc rằng cô ta chết, vì cô đang còn định vẽ rất
nhiều những bức tranh như thế. Ai cũng thấy rằng cô ta đã được những gì
mà mọi người mất những gì. Nhưng tôi nghĩ rằng với cái tính tình của cô
ấy như thế thì cũng nên ra nghĩa địa mà nghỉ ngơi thì hơn. Khi cô ấy chỉ
cầu nguyện làm sao cho cô ấy được sống đến khi nào vẽ xong bức tranh ấy
thôi, thế nhưng cô ấy vẫn không sống được. Đó là bức tranh vẽ một người
thiếu phụ mặc chiếc áo dài trắng, đứng bên thành cầu, sắp sửa nhảy
xuống sông, tóc xoã xuống sau lưng, mặt ngược lên nhìn trăng, nước mắt
tràn trề, hai tay khoanh trước ngực, lại có hai cánh tay khác giơ ra
đằng trước mặt, rồi lại có hai tay khác nữa với lên gần mặt trăng - ý ở
đây là để xem đôi tay nào tốt hơn thì lấy, còn những tay khác thì sẽ xoá
đo. Nhưng mà như tôi đã nói ở trên, cô ấy chết trước khi có ý định dứt
khoát; và bây giờ họ vẫn giữ bức tranh ấy treo trên đầu giường trong
buồng cô ấy. Cứ mỗi lần đến ngày sinh nhật cô ấy thì họ lại kết hoa lên
bức tranh ấy.Hồi trước còn có một cái màn còn phủ lên trên. Người thiếu
phụ trong tranh có khuôn mặt nhỏ và xinh, nhưng vì có nhiều tay quá
thành ra trông như một con nhện, tôi thấy như vậy đấy.
Người con gái này khi còn sống có một quyển sổ
tay trong đó để những chiếc là ướp, và hay chép lại những câu chuyện
hoặc tâm sự của người ốm, lấy ở trong tờ tạp chí Presbyterian Observer,
rồi làm xuống dưới đó những bài thơ cảm hứng được tự cô ấy nghĩ ra. Thơ
cũng hay đáo để. Dưới đây là bài thơ của cô ấy viết về một cậu bé tên là
Stephen Dowling Bost bị ngã xuống giếng chết:
bài thơ viếng Stephen Dowling Bost đã chết.
Có phải em Stephen ốm.
Có phải em Stephen chết?
Có phải những trái tim buồn thêm nặng
Có phải những người đưa em khóc?
Không, đâu phải là số mệnh.
Của em Stephen Dowling Bost.
Dù những trái tim quanh em có nặng
Cũng không phải vì đau ốm đâu em.
Chẳng tiếng nức nở nào hàn gắn được hình em.
Chẳng có gì xoá nổi vết đau.
Cũng chẳng gì bù đắp lại tên em.
Hỡi Stephen Dowling Bost.
Mặc cho đớn đau, không phá nổi tình yêu.
Mái đầu còn nguyên mớ tóc.
Mặc cho ruột gan đau khiến em ngã xuông.
Em vẫn là Stephen Dowling Bost.
Ôi, không! Hãy nhìn bằng đôi mắt đẫm lệ.
Khi ta nghe kể chuyện về số phận em.
Hồn bay lên trên thế giới lạnh lùng.
Khi em sa chân xuống giếng.
Vớt em lên và dốc nước trong người.
Nhưng tôi thôi đã quá muộn rồi.
Hồn em đã bay về nơi nào chẳng thấy.
Ở nơi nào, tốt lành, vĩ đại?
Nếu như cô Emmeline Grangerford có thể làm được
những bài thơ như thế này từ lúc mới mười bốn tuổi thì không biết rồi về
sau sẽ còn làm được những gì nữa. Thằng Buck nói rằng cô ấy có thể
nguệch ngoạc ra một bài thơ dễ dàng như chơi. Chẳng lúc nào là cô ta
không suy nghĩ. Nó bảo cô ấy hạ xuống một dòng, rồi nếu không tìm ra câu
nào nữa cho hợp vần với câu nào nữa cho hợp vần với câu trên là xoá đi
ngay và lập tức thả xuống một câu khác, ròi cứ thể mãi. Cô ấy phải thích
riêng một cái gì, có thể viết bất cứ cái gì mình chọn mà bảo cô ta viết
cũng được. Nhưng phải là thơ buồn. Mỗi lần có một người nào chết, đàn
ông hay đàn bà, hay trẻ con là cô ấy viết ngay được một cái gì để viếng
người chết đó trước khi cái xác lạnh ngắt. Cô ấy gọi đó là những lời ca
ngợi. Hàng xóm láng giếng họ nói rằng cứ theo trật tự thì trước hết là
bác sĩ, rồi đến Emmeline, mà chỉ đến cùng một lúc. Rồi cô ấy sôi nổi đưa
ra một vần thơ ứng vào tên người chết, gọi là Whistler. Rồi về sau này,
cô ấy thay đổi tính nết dần dần, chẳng bao giờ kêu ca, nhưng người thì
cứ gầy mòn và không sống được nữa. Tội nghiệp quá, nhiều lần tôi đi, lên
căn buồng còn trước kia cô ấy thường làm việc, lấy cuốn sổ tay trong đo
ra xem, nhìn những bức tranh cô ắy vẽ, làm tôi cũng đâm ra buồn bã và
thấy thương thương cô ấy. Tôi yêu mến cả gia đình này, cả người chết
nữa, tất cả, và tôi không để xảy ra chuỵên gì. Khổ thay cho cô Emmeline
khi cô còn sống làm thơ về những người chết đi thì chẳng có một ai làm
bài thơ nào về cô cả. Vì thế, tôi cũng cố bóp trán nghĩ một vài câu,
nhưng chẳng thế nào nghĩ ra được. Cái gia đình này gìn giữ buồng cô
Emmeline rất sạch sẽ, gòn gàng, và mọi vật đều để nguyên như ý thích của
cô khi còn sống và cũng không có ai đến ngủ ở đó cả. Bà mẹ cô tự mình
quét dọn chăm sóc căn buồng này, mặc dầu trong nhà có nhiều người da đen
hầu hạ. Bà ấy vào trong buồng này ngồi khâu và phần nhiều hay đọc kinh ở
đây.
à quyên, tôi đang nói chuyện về cái phòng khách.
ở đây có nhiều cửa sổ, màn cửa trắng, có hình vẽ những toà lâu dài cổ,
giàn nho ở quanh tường với những đàn bò, đàn ngựa đang uống nước. Có một
chiếc đàn dương cầm nhỏ đã cũ, mà trong đó tôi chắc có cả xoong chảo.
Mối khi nghe các cô trong nhà hát bài Những dây liên hệ cuối cùng đã đứt
hay chơi bài Trận giao chiến ở Prague thì thật là không có gì hay cho
bằng. Tường chung quanh các phòng đều đắp thạch cao, hầu hết phòng nào
cũng có trải thảm trên sàng nhà. Và toàn bộ cái nhà này đều quét vôi bên
ngoài.
Đó là một căn nhà hai bếp. Khoảng trống giữa hai
bếp nhà có mái che và lát gỗ cẩn thận. Đôi khi giữa trưa đem kê một
chiếc bàn ở đó ngồi rất mát mẻ, rất thú vị. Chẳng có gì hơn thế được
nữa. Và nếu trong những bữa ăn làm ngon nữa thì thật tuyệt, khôn còn gì
bằng.
Chương 18 :
Đại tá Granger Ford là một
người thượng lưu, các bạn thấy đó. Ông là một người thượng lưu về mọi
mặt: cả gia đình ông cũng vậy. Ông ta xuất thân ở nơi danh môn như người
ta thường nói, và cái đó đối với một con người cũng giá trị như đối với
một con ngựa; như bà goá Douglas vẫn nói thế, và không ai có thể chối
cãi được rằng mụ là quý phái hàng đầu ở tỉnh. Chính bố tôi cũng vẫn nói
thế nữa, mặc dầu bố tôi cũng chẳng có giá trị gì hơn một con mèo hoang.
Đại tá Grangerford cao lớn nhưng mảnh khảnh. có một nước da ngăm ngăm
lại nhờn nhớt, cả khuôn mặt không có chỗ nào hồng hào. Sáng nào ông cũng
cạo râu nhẵn nhụi khắp cả bộ mặt gầy guộc của ông. Ông có một đôi môi
vào loại mỏng nhất, hai lỗ mũi vào loại nhỏ nhất, mũi gồ cao, lông mày
rậm, đôi mắt vào loại đen nhất, lõm sâu đến nỗi tưởng như đôi mắt ắy từ
trong hang thăm thẳm mà nhìn vào ta vậy, có thể nói như thế. Trán ông
cao, tóc hoa râm, thẳng và xoã xuống tận hai vai. Hai bàn tay vừa mỏng,
vừa dài. Trong đời ông, mỗie ngày ông thấy một chiếc áo lót và thằng một
bộ quần áo, suốt từ đầu đến chân toàn bằng nỉ trắng, nhìn mà chói cả
mắt. Rồi những ngày chủ nhật, ông mặc thêm một chiếc áo khoác ngoài có
đuôi màu xanh có khuy đồng. Tay ôm cầm một chiếc can bằng gỗ đào, đầu
cán bịt bạc. Không hề bao giờ ông tả ra vô tâm một chút nào, và cũng
không bao giờ tỏ ra nóng nẩy giận dữ với ai. Ông cố gắng để tốt với mọi
người, bàn có thể cảm thấy thế, do đó mà tin ở ông. Thỉnh thoảng ông mỉm
cười, trông thật dễ thương. Nhưng khi nào ông ấy đứng thẳng người lênn
như pho tượng thần tự do, và từ dưới đôi lông mày bắt đầu có ánh sáng
long lanh phát ra, bạn có thể muốn tìm cái cây mà trèo lên ngay, và sẽ
biết rồi sau có chuyện gì. Ông ấy không cần phải bảo người coi chừng ăn ở
- thế mà ông ấy đến chỗ nào là ai nẫy đều ngoan ngoãn cả. Mọi người đều
thích có ông ở gần - thường ông ấy như ánh sáng mặt trời - nghĩa là tôi
muốn nói rằng nó như gặp khi tiết trời tốt ấy. Khi mặt trời đi vào đám
mây thì tối sầm đến nửa phút, và chỉ thế thôi. Rồi chừng đến một tuần lễ
sau vẫn chẳng có chuyện gì xẩy ra cả.
Buổi sáng, khi ông cùng phu nhân bước xuống nhà
thì mọi người đứng dậu chào hỏi. Ông bà chưa xuống thì cả nhà cũng chưa
ái dám ngồi. Rồi Tom và Bod đi ra tủ rượu, rót lẫn mấy thứ rượu vào với
nhau đem đen đưa cho ông. Ông cầm lên tay, chờ Tom và Bod đã rót cả mọi
thứ xong rồi và cả hai đứa đã cúi xuống nói: Xin mời cha mẹ rồi lại chào
đủ mọi thứ kiểu trên đời, rồi lại nói cảm tạ nưũa, tất cả mới cùng
uống. Sau đó, Tom và Bod đổ một thìa nước vào đường, cho một tý đường
vào uýt sky hay rượu Brandy vào đáy cốc, đưa cho tôi và Buck, rồi lại
đến lượt chúng tôi cùng uống chúc mừng hai ông bà ấy nữa.
Bob là con lớn nhất. Rồi đến Tom, cả hai đều cao
lớn, đẹp trai, vai rộng, mặt ngâm đen, tóc đen và dài, mắt cũng đen
nữa. Hai người đều mặc đồ nỉ trắng, cũng suốt từ đầu đến chân như ông
già thượng lưu kia và đội mũ cói rộng vành.
Rồi đến lượt cô Charlotte. Cô hai mươi lăm tuổi,
cao lớn, về hãnh diện, khi nào không nổi nóng lên thì cũng cố gắng tỏ
ra tốt bụng. Nhưng lúc cô ấy nổi nóng lên thì vẫn có thể làm cho bạn
phải rung đôi cẳng, chẳng khác nào ông bố cô cả. Cô ấy khá đẹp.
Còn cô em, Sophia, thì lại khác hẳn chị. Cô rất
hiền hậu, dễ thường như một con chim bồ câu. Cô mới hai mươi tuổi. Mỗi
người trong nhà đều có riêng một người da đen hậu hạ. Cả thằng Buck cũng
có. Người da đen họ dành cho tôi thì tha hồ rỗi việc,vì tôi không bao
giờ muốn ai làm hộ tôi cái gì cả. Còn thằng Buck thì lúc nào cũng sai
bảo, gắt nhặng cả lên.
Đó là tất cả những người có mặt trong gia đình.
Đáng lẽ còn nhiều hơn nữa, nhưng ba người con trai lớn đã bị giết cả,
với cô Emmeline cũng đa chết rồi.
Ông già thượng lưu này có mấy cái trang trại với
hơn một trăm ngươi da đen làm việc. Thỉnh thoảng có một đám người đến
đấy, đi ngựa từ một nơi cách đây mươi mười lăm dặm. Họ ở lại năm sáu
ngày, ăn uống lù bù ở trên sông hay quanh nhà, nhảy nhót, nô đùa trong
rừng lúc ban ngày. Rồi đến đem vào trong nhà lại nhảy. Những người này
phần lớn là họ hàng của gia đình. Họ mang theo cả súng. Mà phải nói rằng
đây toàn là súng hạng tốt và đẹp cả.
Có một dòng họ quý phái khác ở gần đấy, độ năm
sáu gia đình phần lớn mang tên họ Shepherdsons. Họ cũng tiếng tăm, cũng
thuộc hàng danh môn, giàu có, to lớn như họ nhà Grangerford đều dùng
chung một cái bến tàu thủy ở cách nhà chúng tôi chừng hai dặm. Thỉnh
thoảng tôi vẫn ra đó cùng với mấy người của nhà này, thường thấy có một
đám người nhà Shepherdsons cưỡi những con ngựa rất đep qua đó.
Một hôm Buck và tôi vào rừng săn bắn, chợt nghe thấy tiếng ngựa chạy tới. Chúng tôi đang qua đường Buck nói:
- Mau lên nhảy vào rừng!
Chúng tôi nhảy vào rừng, nấp trong bụi nhìn qua
kẽ lá ra ngoài. Lát sau có một chàng trai trẻ, đẹp đàng phi ngựa về phía
này, ngồi trên ngựa vững vàng như một tay kị bình. Hắn ta có một cây
súng đeo trên phía trước yên ngựa. Tôi đã gặp hắn một lần rồi. Đó là
Harney Shepherdsons. Bỗng một tiếng súng của Buck nổ tạt qua mang tai
tôi, và chiếc mũ đội trên đầu của Harney bật tung lên. Hắn vội cầm lấy
súng rồi lao thẳng ngựa đến chỗ có tiếng nổ. Nhưng chúng tôi không đợi.
Chúng tôi nhảy vọt qua rừng chạy biến đi. Rừng không rậm rạp lắm, nên
tôi có thể vừa chạy vừa ngoái cổ lại nhìn để tránh đạn. Hai lần thấy
Harney nhằm miệng súng vào Buck nhưng rồi hắn lại không trông thấy.
Chúng tôi chạy một mạch về đến tận nhà. Ông già thượng lưu nhìn chúng
tôi, đôi mắt sáng lên một chútm, ý chừng là ông ấy vui lòng, tôi đoán
thế. Nhưng rồi mặt ông lại ỉu xuống,và nói với một giống nhẹ nhàng:
- Tao không thích cái lối từ trong bụi rậm bắn ra như vậy. Tại sao mày không đứng giữa đường cái mà bắn?
-Bọn Shepherdsons cũng thế, bố ạ. Bao giờ chúng nó cũng tìm chỗ có lợi thế hơn.
Cô Charlotte nghe Buck kể lại chuyện ấy, ngửng
cao đầu lên như một bà hoàng, lỗ mũi nở ra và đôi mắt nhấp nháy. Hai
người con trai thì nét mặt sa sầm nhưng không nói gì. Cô Sophia thì tái
mặt đi, nhưng rồi khi nghe nói người kia không bị trúng đạ, cô lại trở
lại như thường.
Lát sau, tôi kéo Buck đi xuống nhà xay lúa, ngồi dưới bóng cây nói chuyện riêng. Tôi hỏi:
- Lúc đó mày định giết nó thật à. Buck?
- Tao định thật chứ
- Thế nó làm gì mày?
- Nó ấy à? Nó chẳng làm gì tao bao giờ đâu
- ờ, thế mày định giết nó làm gì chứ?
- Đồn điền là cái gì?
- Ô hay, mày sinh trưởng ở đâu mà không biết đồn điền là cái gì ư?
- Tao chả nghe thấy bao giờ cả. Mày thử nói tao nghe nào
Buck nói”
- Thế này này, đồn điền là như thế này: Một
người có xung đột với một người khác, rồi giết đi. Rồi anh em người bị
giết ngươi này. Rồi anh em người này lại giết người kia. Cả hai bên đều
cứ giết nhau như thế mãi. Sau rồi đến anh em họ lại cũng dính vào đó
nữa, rồi dần dần ai cũng bị giết cả, thế là không còn đồn điền nữa.
Nhưng đo là cả một chuyện lâu dài cơ.
- Thế cái chuyện này đã có lâu chưa, Buck?
- ừ, tao nghĩ có lẽ lâu rồi đấy. Đến ba mươi năm
nay rồi, hay hơn thế nữa. Có cái chuyện gì rắc rối ấy, rồi lại có cái
chuyện kiện cáo gì đó phải giải quyết, rồi tòa án xử một người trong
đám, thế là người này đứng dậy bắn luôn người được kiện kia một phát mà
cái đó là cổ nhiên thôi, ai chả thế.
- Cái gì rắc rối hở Buck? Ruộng đất phải không?
- Có lẽ như vậy, tao cũng chẳng biết
- ừ, thế lúc đó ai bắn? Người của nhà tao biết được. Lâu lắm rồi.
- Thế không ai biết à?
- ồ, có chứ, bố tao biết, tao chắc là thế, và
những người trong nhà này biết cả. Nhưng bây giờ họ không biết rằng từ
lúc đầu đánh nhau như thế nào.
- Đã có nhiều người bị giết chưa Buck?
- Có, nhiều lần suýt nữa thì phải làm đám tang.
Nhưng không phải lần nào cũng bắn hắn chết được cả đâu. Bố tao cũng có
mấy viên đạn nằm trong người, nhưng ống ấy không cần, vì chỉ là đạn nhỏ
thồi. Bod đã bị đâm bằng con dao săn, và Tom cũng đã bị trúng đạn một
vài lần.
- Thế năm nay có ai giết khong, Buck?
- Có, bên chúng tao giết được một người, và bên
họ cũng giết được một người. Khoảng ba tháng trước, em họ tao là thằng
Bud, nó mới mười bốn tuổi, đang đi ngựa trong rừng bên kia sông, nó
chẳng mang vũ khí gì đi theo, điên rồ đến thế cơ chứ, đang đi ở một chỗ
vắng thì nó nghe thấy tiếng ngựa sau lưng, quay lại thấy lão Baldy
Shepherdsons đang đuổi đến gần, trong tay lão cầm súng và tóc trắng của
lão bay trước gió. Thế thì đáng lẽ nhảy sang bên và chạy vào rừng, thẳng
Bud lại cứ phi ngựa chạy vọt lên đằng trước, Thế là hai người cứ bám
sát nhau đuổi đến hơn năm dặm ấy. Lão già kia cứ muốn vượt lên trước mà
không được. Sau cùng thằng Bud thấy như vậy vô ích quá, nó mới dừng ngựa
lại để nếu như có phải ăn đạn thì cũng là ở trước mặt, mày hiểu không.
Thế là lão già kia vượt lên bắn nó chết. Nhưng rồi lão già kia cũng
không may được lâu,vì chỉ trong vòng một tuần lễ thì những người của nhà
bên này đã cho lão đi chầu trời ngay.
- Tao cho lão già kia hèn, Buck ạ
- Không, lão ta không hèn đâu. Cứ trông lão ta
thì biết. Trong đám nhà Shepherdsons chẳng có ai hèn nhát đâu. Và trong
họ nhà Grangerford này cũng không có ai hèn cả. Mày biết không, có một
hôm lão già ấy đã chống lại với bà người của nhà Grangerford này trong
nửa giờ và rút cục là lão ta thắng trận. Mấy người lúc ấy đều đi ngựa
cả, lão ta nhảy xuống ngựa nấp sau một đống gỗ, rồi cho ngựa đứng ra
đằng trước để đỡ đạn. Mấy người nhà Grangerford thì vẫn ngồi trên ngựa
bao vây chung quanh lão già, ngắm lão bắn. Lão ta cũng bắn trả lại. Sau
đó, cả lão già và con ngựa chạy được về nhà, máu me đầy người, què lê
kéo dệt; nhưng còn mấy người nhà Grangerford thì phải khiêng về. Một
người chết ngay, còn một người nữa hôm sau cũng chết nốt. Không, ông ơi,
nếu ra trận mà chỉ có những người hèn nhát thì chẳng bao giờ dám chạm
trán với những người nhà Grangerford đâu; và cũng chẳng ai nuôi những
ngươi như thế đâu.
Chủ nhật đó, chúng tôi đi lễ nhà thờ, cách nhà
độ ba dăm. Ai cũng đi ngựa cả. Mỗi người đều mang súng theo mình, cả
Buck cũng thế. Buck kẹp súng vào đùi hoặc dựa súng vào tường với tay ra
là lấy được ngay. Nhưng người bên nhà Shepherdsons cũng vậy. Thật là chỉ
cầu nguyện bền ngoài thôi, nào là nói thương yêu nhau như anh em, với
những câu khác kiểu như thế, nghe mà phát ớn nhưng rồi ai cũng nói là
cầu nguyện như thế là rất tốt, cả lúc trở về nhà đi dọc đường cũng nói
như vậy, họ nói một lô những điều về lòng trung thành, về tốt lành, về
những trời đất gì tôi cũng không biết nữa. Và tôi cảm thấy đây là một
trong những ngày chủ nhật chán nhất mà tôi đã từng được nếm.
Độ một giờ sau bữa ăn trưa, mọi người đều tản
mát đi cả. Người ngồi ghế, người về buồng riêng, và không khí thật buồn
tẻ. Buck với một con chó ra nằm dài trên cổ ngủ dưới nắng. Tôi cũng đi
lên buồng và nghĩ bụng cũng phải ngủ một giấc. Thầy cô Sophia hiền hậu
đang đứng cửa, bên cạnh buồng chúng tôi. Cô ấy kéo tôi về buồng riêng
của cô ấy, khẽ đóng cửa lại, và hỏi tôi có yêu mến cô ây không. Tôi bảo
tôi có yêu. Cố ấy bảo tôi làm giúp cô ấy một việc và đừng nói với ai cả.
Tôi bảo được. Rồi cô ấy nói là để quên cuốn kinh thánh ở trên ghế nhà
thờ cùng với hai quyển sách nữa, bảo tôi lặng lẽ ra khỏi nhà đi đến đó
lấy về hộ; và nhớ đừng nói với ai. Tôi bảo được, để tôi đi lấy cho. Tôi
lẻn ra ngoài nhà, rồi thẳng đường chạy đến đó. Trong nhà thờ chẳng có
một ai, cólẽ chỉ có vài con lợn. Vì cửa nhà thờ không đóng, và mùa hè
lợn nó thích cái sàn gỗ cao ráo trong nhà thờ, mát mẻ hơn. Nếu các bạn
để ý sẽ thấy; có nhiều người chỉ khi nào không thể đi nhà thờ được thì
mới thôi không đi thôi, chứ lợn thì khác.
Tôi tự bảo là chắc có chuyện gì đây. Một người
con gái mà lại lo cuống lên về chuyện quên cuốn kinh thánh như thế này
thì không phải là tự nhiên. Tôi cầm cuốn sách rũ một cái, một mảnh giấy
con rơi ra có nét bút chì viết Hai giờ rưỡi. Tôi lục lại một lần nữa,
nhưng không thấy gì khác. Tôi không nghĩ ra được nó là cái gì, nên bỏ
mẩu giấy trả lại. Khi tôi trở về nhà, lên gác thấy cô Sophia vẫn đứng
chờ ở cửa chờ tôi. Cô ấy lại kéo tôi vào, đóng cửa lại, rồi tìm được mẩu
giấy trong cuốn sách, đọc xong thấy có vẻ vui mừng. Bỗng nhiên tôi chưa
kịp nghĩ gì thì cô ấy đã nắm lấy tay tôi và bảo tôi là cậu bé tốt nhất
trên đời, dặn tôi đừng nói với ai cả. Cô ấy đỏ mặt lên một phút, đôi mắt
sáng lên, lúc đó nhìn cô ấy đẹp vô cùng. Tôi ngạc nhiên, nhưng sau bình
tĩnh lại rồi tôi mới hỏi rằng cái mẩu giấy ấy là thế nào. Cô ấy hỏi tôi
đã đọc được chữ viết không, tôi bảo không, chỉ mới tập gạch nét cô ấy
bảo rằng mảnh giấy đó chỉ là để đánh giấu chỗ đang đọc giở thôi, rồi lại
bảo tôi có thể chạy ra ngoài mà chơi được.
Tôi đi xuống bờ sông, suy nghĩ về chuyện này.
Chợt thấy anh da đen của tôi bước theo sau. Lúc chúng tôi đi đến chỗ
khuất trong nhà không trông thấy đượcm, hắn mới quay lại nhìn một giây,
rồi chạy đến chỗ tôi nói:
- Cậu George, nếu cậu đi quá xuống cái đầm dưới kia, tôi sẽ chỉ cho cậu xem một lũ chồn nước.
Tôi nghĩ bụng quái lạ nhỉ, từ hôm qua hắn đã nói
cái đó rồi. Hắn cũng biết rằng chả ai thích chồn nước cho lắm và cũng
không ai đi săn cái giống đó cả. Nhưng tại sao hắn lại nói thế? Tôi bảo;
- Được, anh đi trước đi
Tôi bước theo hắn đến nửa dặm, rồi rẽ ra phía
đầm, phải lội một quãng đến mắt cá chân độ nửa dặm nữa: chúng tôi đến
một chỗ đất bằng vừa cao vừa khô ráo, có nhiều cây cối, bụi rậm, và có
cả cho nữa. Hắn nói:
- Cậy George, cậu bước quá vào trong kia mấy bước. Nó ở trong đó. Tôi đã được thấy trước rồi, bây giờ tôi không cần xem nữa.
Nói xong hắn chạy biến đi ngay rồi khuất sau một
đám cây không thấy đâu nữa. Tôi bước vào phía trong, đến một chỗ trống
chỉ rộng khoảng chừng bằng mộtt cái phòng, chung quanh có lá nho che
kín, bỗng thấy một người nằm ngủ trong đó. Trời ơi, thì ra đó là Jim của
tôi!
Tôi gọi Jim dậy, và tôi đoán thế nào trông thấy
tôi hắn cũng lại kinh hoàng cho mà xem.Nhưng không. Hắn chỉ mừng rỡ đến
gần khóc mà không lấy làm ngạc nhiên chút nào. Hắn kể lại rằng đêm đó
hắn bơi theo sau tôi và có nghe thấy tiếng tôi gọi mấy lần nhưng không
đáp, vì sợ có người nhận ra và lại bắt hắn về làm nô lệ nữa. Hắn nói:
- Tôi bị đau một tí nên không bơi nhanh được, bị
cậu bỏ lại đằng sau khá xa. Lúc cậu lên bờ rồi thì tôi tính có thể lên
đất sẽ theo kịp cậu mà không cần phải gọi. Nhưng đến khi trông thấy tòa
nhà đó thì tôi bắt đầu đi chậm lại. Tôi đứng xa nên không nghe rõ họ nói
những gì với cậu; tôi cũng sợ bầy chó nữa. Đến lúc đã yên lặng cả rồi
thì tôi biết là cậu đã vào bên trong cái nhà đó. Vì vậy tôi mới ra ngòai
rừng nằm chờ cậu suốt một ngày. Sáng sớm hôm sau có mấy người da đen đi
làm đồng, họ bắt gặp tôi và chỉ cho tôi trốn vào chỗ này. Chỗ này có
đầm nước ngăn với trong kia nên lũ chó không thể đánh hơi được. Cứ đến
đem thì anh em họ đem cho tôi ít đồ ăn, và họ có kể cho tôi nghe về cậu ở
trong đó ra sao.
- Sao anh không bảo Jack dẫn tôi ra đây sớm hơn nữa Jim?
- Không muốn phiền cậu, Huck ạ. Cậu bảo có thể
làm gì được đâu nhưng bây giờ thì yên trí rồi. Tôi đã mua được xoong,
chảo, thức ăn đủ cả. Thật may quá. Đêm đêm tôi lại mò ra vá víu cái bè,
tôi...
- Bè nào, Jim?
- Bè cũ của chúng mình ấy
- Thế nghĩa là cái bè của chúng mình không bị tan tành ư?
- Không, không đâu. Nó chỉ vỡ một phần. Còn một
đầu vẫn nguyên, chẳng hề gì cả. Nếu không lặn xuống nước quá sâu, nếu
đêm đó không sợ hãi mà bạo dạn một tí như câu phương ngôn vẫn nói ấy,
thì chúng ta có thể giữ cái bè lại được. Nhưng chả lo, vì bây giờ đã sửa
lại gần như mới rồi, và lại có một lô những thứ khác nữa, ngay ở chỗ
chúng ta bị mất ấy.
- Anh làm thế nào mà lại tìm được bè về, Jim, anh đuổi theo à?
- Tôi nằm trong rừng này thì làm sao đuổi theo
được? Không, cậu ạ, có mấy anh em ra đen tìm thấy nó nằm kẹt ở bãi gần
đây. Họ đem giấu vào một cái hốc dưới bụi liễu, rồi họ bàn tán cãi cọ
với nhau mãi về cái bè không biết là của ai. Vừa lúc đó tôi đi tới và
nói cho họ biết rằng cái bè đó không phải của ai cả, mà là của cậu và
tôi. Tôi hỏi có phải họ định lấy tài sản của một người da trắng thượng
lưu hay không mà lại đem giấu đi như vậy? Rồi tôi cho mỗi người một hào;
người nào cũng thỏa mãn lắm. Rổi tôi bảo nếu có những cái bè khác nữa
trôi đến thì họ sẽ lại có tiền. Họ đối với tôi tốt lắm cậu! Nhưng anh em
da đen ấy mà. Mỗi khi tôi cần họ giúp đỡ gì thì chả phải nói đến hai
lần đâu, cậu ạ. Cái thằng Jack ấy là một người da đen tốt đấy, và nó
cũng khá nhanh nhảu.
- ừ, hắn tốt đấy. Hắn cũng chả bao giờ nói với
tôi là anh ở đây. Hắn bảo tôi tới đây hắn chỉ cho xem lũ chồn nước. Nếu
như có chuyện gì xảy ra thì hắn không bị liên lụy đâu. Hắn có thể nói là
chưa trông thấy chúng mình đi với nhau bao giờ, và như thế người ta sẽ
tin là thật.
Tôi không muốn nói nhiều về ngày hôm sau ra sao.
Tôi chỉ kể vắn tắt như thế này: Tôi thức dậy từ lúc còn tờ mờ sáng,
đang định quay ra ngủ nữa thì bỗng nhận thấy lúc đó rất yên tĩnh, hình
như không có ai động đậy gì cả. Điều đó hơi bất thường. Sau tôi lại thây
Buck đã dậy và đi từ lúc nào. Tôi vùng dậy, lấy làm lạ, và đi xuống nhà
dưới. Chẳng có ai ở đó. Mọi vật đều im lặng. Bên ngoài cũng thế. Tôi
không hiểu như vậy là thế nào. Bước ra đống gỗ, tôi đến chỗ Jack hỏi:
- Có chuyện gì đấy?
Hắn đáp:
- Cậu không biết à?
- Vâng. Cô Sophia cô ấy trốn đi rồi. Trốn đi
thẩt rồi. Cô ấy trốn vào lúc giữa đêm, chăng ai biết cả. Cô ấy trốn đi
để lấy cái anh chàng Harney Shepherdsons ấy, cậu biết khôngm. Nghe họ
đồn thế. Gia đình thì mới biết cách đây độ nửa giờ thôi, có lẽ không
tới, và họ vội vã đi ngay. Lần này thật là một lần vội vã, súng ống,
ngựa nghẽo rầm rập chưa từng thấy. Các ông ấy đã đi loạn báo cho họ hàng
cả rồi. Ông cụ Saul và mấy cậu thì đem súng ra bờ sông để tìm giết anh
chàng kia, vì rất có thể là anh ta đem cô Sophia qua sông. Tôi đoán có
lẽ sắp sẩy ra nhiều chuyện lôi thôi nữa đấy.
- Buck nó dậy sao không gọi tôi?
- Tôi chắc cậu ấy cố ý như thế đấy. Họ không
muốn cho cậu dính vào chuyện này. Cậu Buck cậu ấy lên đạn và bảo rằng
sắp đi bắt một tên Shepherdsons về. ở bên kia họ đông người lắm, tôi
chắc thế, cậu thử tính xem mau ra cậu ấy có đi chõm được một người nào
không?
Tôi chạy vụt ra bờ sông thật nhanh. Rồi một lúc
thì nghe thấy súng nổ bốn bề. Ra đến cái lán gỗ gần bến tàu thủy, tôi
tìm loanh quanh trong đám cây xem có chỗ nào kín để nấp, rồi tôi trèo
lên một cái chạc cây xa tầm súng để xem xét. Có một đám gỗ khá chất cao
gần hai thước ở kế đó, tôi định chạy đến nấp ở đằng sau, nghĩ bụng có
thể chắc chắn hơn. Bốn năm người cưỡi ngựa chạy rầm rầm quanh đó, ở chỗ
đất trống trước mặt lán gỗ. Họ vừa chửi, vừa hét, đang định tóm hai cậu
thanh niên đang nấp đằng sau đống gỗ ở dọc bến tàu thủy. Nhưng họ không
vào tới được. Mỗi lần một người trong đám kia thò ra phía ngòai sông,
khỏi đống gỗ một tí thì từ trong đống gỗ lại có người bắn ra. Hai cậu
kia ngồi xổm, dựa lưng vào phía sau đống gỗ, thành ra có thể kiểm soát
được cả đường ra đường vào.
Lát sau, mấy người không chạy quanh và cũng
không la hét nữa. Họ đi về phía nhà kho. Lập tức có một cậu đúng dậy bắn
một phát súng từ đống gỗ ra trúng một người trong bọn kia ngã ngựa. Họ
nhảy vọt cả xuống ngựa để nhặt người bị thương đem về nhà kho, vừa lúc
đó hai cậu kia bỏ chạy. Hai cậu chạy được nửa đường từ chỗ đó ra đến chỗ
tôi nấp thì chợt mấy người kia trông thấy, họ liền nhảy lên ngựâ đuổi
theo. Họ vượt gần đến nơi nhưng không ăn thua, hai cậu kia chạy nhanh
lắm, đã tọt vào đống gỗ ngay trước mặt cái cây của tôi nấp. Thế là lợi
thế hơn bọn kia. Một người trong hai cậu đó là Buck, còn một cậu gầy gò
trạc mười chín tuổi.
Bọn người đó sục sạo một lúc ở chúng quanh rồi
bỏ đi. Họ vừa đi khuất thì tôi lên tiếng gọi Buck. Lúc đầu nó ra. Nó
ngạc nhiên sợ hãi. Xong nó bảo tôi nhìn kỹ xem và hễ những người kia
quay lại thì báo cho nó biết. Nó bảo bọn người kia đã sẵn âm mưu gì rồi,
nên thế nào cũng quay lại. Tôi muốn rời khỏi cây này, nhưng lại không
dám. Bỗng thấy thằng Buck khóc vang lên và nói rằng nó và anh họ nó là
Joe (tức là cái cậu cùng chạy kia) cả ngày hôm nay còn phải trốn tránh
nữa. Nó nói là bố nó và hai anh nó bị giết cả rồi, và bên kia phía kẻ
thù cũng có haiư ba người bị giết. Nó bảo là bọn nhà Shepherdsons bố trí
phục kích. Nó nói bố nó và hai anh nó vừa đánh vừa chờ họ hàng kéo đến
nhưng cánh nhà Shepherdsons quá mạnh. Tôi hỏi thế còn Harney và cô
Sophia thì ra sao. Nó bảo hai người đã qua sông sang bên kia rồi, không
việc gì cả. Tôi nghe thế mừng lắm. Nhưng thằng Buck thì không thế, nó
rất bực mình nghĩ đến hôm trước đã không thể giết được Harney cái bữa ở
trong rừng ấy. Tôi chưa hề bao giờ lại thấy như vậy.
Bống pàng! pàng! pàng! ba bốn phát súng nổ. Cả
hai đứa kia bỏ ngựa, chạy luồn qua rừng bò đến sau lưng từ lúc nào. Cả
hai đứa chạy ra nhảy xuống sông. Cả hai đứa đều bị thương. Và trong lúc
hai đứa bơi xuôi theo dòng sông thì mấy người kia chạy lên bờ bắn theo,
miệng kêu giết chúng nó đi, giết chúng nó đi. Tôi nghe thấy thế đau đớn
quá suýt ngã từ trên cây xuống. Tôi không dám kể tiếp những chuyện xảy
ra sau đó nữa,vì nói ra hết sức đau lòng. Tôi nghĩ giá đêm đó đừng ra bờ
sông để khỏi nhìn thấy những cảnh ấy thì hơn. Sau, tôi không thể nào
quên được, nhiều khi ngủ cứ mê thấy chúng nó nữa.
Tôi ở tít ngọn cây cho đến lúc xẩm tối, vì sợ
quá không dám bò xuống. Thỉnh thoảng, tôi còn nghe tiếng súng trong rừng
xa, và hai lần tôi trông rõ những đám người đi ngựa mang súng chạy qua
lán gỗ, và tôi đoán rằng chuyện rắc rối ấy vẫn còn đang tiếp diễn. Tôi
quá sức kinh hãi, định bụng sẽ không bao giờ còn quay lại căn nhà đó
nữa, và tôi nghĩ dù sao mình cũng không bị khiển trách. Tôi đoán rằng
cái mẩu giấy kia có nghĩa là cô Sophia đo gặp Harney ở chỗ nào đó vào
lúc hai giờ rưỡi để cùng đi trốn. Tôi thấy đáng lẽ tôi phải nói cho bố
cô ấy biết vể chuyện mảnh giấy đó với cái hành động hơi lạ lùng của cô,
như vậy bố cô sẽ giam cô lại thì đâu có thể xảy ra những chuyện giết
người kinh khủng như thế này được.
ở trên cây tụt xuống rồi, tôi mới bò theo dọc bờ
sông một quãng, thấy hai cái xác nằm trên bờ nước. Tôi cố sức kéo hai
cái xác vào phía trong này và lật mặt lên xem, rồi tôi chạy biến đi thật
nhanh. Lúc nhìn ra mặt Buck, tôi khóc lên hồi lâu, vì nó đối với tôi
thật tốt bụng.
Rồi trời tối hẳn. Tôi không dám đến gân nhà, mà
đi xuyên qua rừng tìm về cái đầm. Jim không còn đó nữa. Tôi lại hộc tốc
len lỏi qua đám cây liễu, nóng lòng muốn nhảy ngay lên thuyền mà đi cho
thoát khỏi cái xứ khủng khiếp này. Chiếc bè cũng đi đâu rồi. Trời ơi,
tôi sợ quá! Đến hơn một phút đồng hồ, tôi bị nghẹn thở. Rồi tôi kêu lên
một tiếng. Cách chỗ tôi đứng chỉ độ vài thước, bỗng có tiếng nói:
- May quá, trời ơi, có phải cậu đấy không? Cậu khe khẽ chứ
Đó là tiếng Jim. Trước nay, tôi chưa hề nghe
thấy tiếng nói nào nó làm cho mình yên lòng đến thế. Tôi nhảy vọt qua bờ
nước và lên bè. Jim ôm chặt lấy tôi. Hắn thấy tôi mừng rỡ quá, Jim nói:
- May quá, cậu ơi, tôi ở dưới này đã tưởng cậu
lại chết rồi. Jack nó đến đây và nói có lẽ cậu bị trúng đàn hay sao ấy
mà không thấy cậu trở về nhà nữa. Tôi định đẩy bè xuống dưới đó để chở
hễ Jack nó quay lại cho tôi biết chắc chắn là cậu đã chết thì tôi sẽ
đánh bè đi ngay. Thế là bây giờ cậu đã quay lại đây rồi, tôi sung sướng
quá.
Tôi nói:
- Hay lắm, thế thì lại càng tốt. Như vậy, họ sẽ
không tìm tôi nữa vì tưởng tôi đã bi giết rồi, và bị trôi sông rồi. Trên
kia có xác người, có thể làm cho họ tưởng như vậy. Thôi ta đi mau lên,
Jim ơi, hãy đẩy nhanh ra giữa dòng đi đã.
Cho đến khi bè của chúng tôi đã đi ngược chừng
vài dặm về phía dưới và ra đến giữa dòng sông Mississppi, chúng tôi mới
yên tâm. Rồi chúng tôi treo đèn báo hiệu lên, trong lòng nghĩ là một lần
nữa lại thoát nạn và được tự do. Từ hôm qua, tôi chưa có cái gì vào
bụng. Jim lấy ra mấy chiếc bánh mì rán; bánh sữa, lại có cả thịt, cả rau
xanh nữa. Trên đời thật không còn gì ngon hơn là ăn nóng sốt như thế
này. Tôi vừa ăn vừa nói chuyện với Jim rât vui vẻ. Tôi mừng đã thoát
khỏi vạ đồn điền; và Jim cũng mừng được thoát khỏi đầm nước. Chúng tôi
bảo nhau rút cục là chẳng ở đâu hơn cái bè của chúng mình cả. Những nói
khác thì ở đâu cũng chặt chội, nghẹt thở. Nhưng ở trenê bề thì không
thế. ở trên bè, mình sẽ cảm thấy hoàn toàn tự do, dễ thở và vững tâm.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)