Blog Archive

Thứ Năm, 30 tháng 5, 2013

Nghị Lực Là Gì ?

1. Định nghĩa.
Khi ai bảo ông X có nghị lực, ta hiểu ngay là ông ấy có một chí hướng và đủ năng lực thắng mọi trở ngại để đạt chí hướng ấy. Nhưng ta thường nghĩ lầm rằng nghị lực là một năng lực tinh thần, sự thực nó gồm ba năng lực đều quan trọng cả: - Suy nghĩ. - Quyết định. - Và thực hành. Tôi xin lấy một thí dụ: tôi muốn lựa một nghề và tôi nghĩ đến nghề y sĩ hoặc giáo sư. Trước hết tôi phải xét mỗi nghề đó cần đến những khả năng nào và tôi có những khả năng ấy không; lại xét nghề nào có tương lai hơn, hợp với gia cảnh của tôi hơn…
Khi đã so sánh kỹ lưỡng, tôi quyết định lựa một nghề, rồi ghi tên vào ban đại học dạy nghề đó. Sau cùng, tôi phải kiên nhẫn học tập cho tới khi thành tài. Nếu thiếu công việc thứ nhất là suy nghĩ, lựa chọn – mà hễ thiếu công việc đó thì cũng thiếu luôn công việc thứ nhì là quyết định - chẳng hạn, nếu tôi vâng lời song thân tôi mà học nghề y sĩ, chứ trong lòng tôi chẳng thích gì nghề đó cả, rồi ngoan ngoãn cắp sách tới trường học đủ bài để thi, thì bạn chỉ có thể bảo tôi là một người con hiếu thuận chứ chưa thể cho tôi là có nghị lực được.

2. Xét về phương diện sinh lý
Vì nghị lực gồm ba năng lực tinh thần nên khó mà định được phần nào trong cơ thể ta điều khiển nghị lực. Ông Ferrier kể trường hợp những người có bệnh ở phần óc phía trán mà sinh ra mất nghị lực rồi ông kết luận rằng chính phần óc đó là cơ quan của nghị lực. Các nhà bác học hiện nay không công nhận thuyết ấy vì phần óc đó thực ra chỉ điều khiển những vận động tự ý của ta thôi, mà những vận động này, như tôi đã nói trong đoạn trên, chỉ là giai đoạn thứ ba của nghị lực. Khoa học chưa tìm được cơ quan nào điều khiển sự suy nghĩ và quyết định: người ta chỉ biết là ở óc, nhưng phần nào ở óc và óc hoạt động ra sao để suy nghĩ, quyết định thì chưa ai rõ. Chúng ta nên biết thêm rằng có những hạch ảnh hưởng lớn tới bộ thần kinh. Bác sĩ Lepold Lévi nhận xét một em nhỏ dưới mười một tuổi học giỏi nhất lớp. Vì muốn cắt một cái bướu, ông phải cắt luôn hạch ở trước cổ (thyroide) và từ đó, những cơ năng tinh thần của em lần lần suy giảm: em nói rất chậm chạp, cử động uể oải, ký tính kém sút. Ba năm sau, em hoàn toàn quên hẳn chữ, không viết và cũng không đọc được nữa, em tỏ ra nóng tính, quạu cọ. Ông lấy nước hạch đó của loài cừu chích cho em thì cơ năng tinh thần của em lần lần phục hồi, chỉ một tháng sau, em viết được thư; và hễ ngưng chích ít lâu thì bệnh trở lại như cũ. Ông kể thêm nhiều trường hợp như vậy và kết luận rằng những người ít hăng hái, hoạt động, là do hạch trước cổ suy nhược.
Một đời sống hợp vệ sinh, những thức ăn lành, bổ, cách thâm hô hấp cũng ảnh hưởng tốt đến nghị lực; trái lại bệnh nghiện rượu, nghiện thuốc phiện làm cho con người bạc nhược và di hại đến đời sau. Ở cuối sách, chúng tôi sẽ chỉ những phép vệ sinh phải theo để tăng cường nghị lực; dưới đây hãy xin xem xét kỹ về phương diện tâm lý của nghị lực.

3. Về phương diện tâm lý
Người có nghị lực có đủ ba đức tính: có sáng kiến, biết quyết định và hành động đắc lực. Có sáng kiến là biết tự vạch con đường để đi, không theo ý chí của ai. Óc sáng kiến đó không cần phải nẩy nở lắm như óc các nhà bác học: miễn là biết tự kiếm lấy giải pháp cho những công việc thường ngày là được. Như vậy, hạng người trung bình nào cũng có đủ sáng kiến để có nghị lực: nhưng thiếu sáng kiến thì quyết nhiên không được, ta sẽ chỉ như người bù nhìn để người khác giật dây mà bù nhìn thì làm gì còn có nghị lực, cần dùng gì tới nghị lực ? Quyết định phải nhanh để hoạt động cho kịp thời, không do dự mà bỏ lỡ cơ hội; và phải sáng suốt để sau khỏi thường hay đổi ý kiến. Đức quyết đoán quan trọng lắm, nên người ta hay dùng nó để xét một người có nghị lực hay không. Song giai đoạn quan trọng nhất vẫn là giai đoạn thực hành và muốn thực hành phải bền chí hoạt động, gặp trở ngại gì cũng ráng san phẳng cho được. Phải tự chủ được mình, thắng các cám dỗ ở ngoài và bản tính thích an nhàn, dật lạc của loài người. Tuy nhiên ba đức ấy nên vừa phải, nếu quá mức thì lại có hại cho nghị lực. Óc sáng kiến mà mạnh quá, không được hợp lý thì ta hoá gàn dở, mơ mộng, ngược đời. Tinh thần quyết định mà thiếu quân bình thì có thể thành tật nông nổi, nhẹ dạ, hoặc quá cẩn thận đến nhút nhát. Bền gan mà không sáng suốt, biết tuỳ thời thì thành bướng bỉnh, xuẩn động. Và một người tự chủ quá có thể thiếu tình cảm mà hoá ra lãnh đạm. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nghị lực. Thói quen mới đầu giúp ta dễ hành động nhưng có thể giảm nghị lực vì nó làm cho ta thành cái máy, không cần suy nghĩ, gắng sức nữa. Chẳng hạn bạn muốn bỏ tật hút thuốc lá, mấy ngày đầu thấy khó, sau nhờ thói quen mà thấy dễ, lần lần bạn không phải dùng nghị lực nữa mà không dùng tới nó lâu thì nó có thể suy. Sự hiểu rộng biết nhiều giúp ta suy nghĩ sáng suốt, nhưng chính tình cảm mãnh liệt mới giúp ta quyết định mau lẹ và bền chí thực hành. Học rộng mà thiếu đức tin thường chỉ là hạng người nói hay mà làm dở. Hoàn cảnh xã hội có thể tăng hay giảm nghị lực của ta. Được người khác khuyến khích, ta hăng hái theo đuổi mục đích; bị thiên hạ thờ ơ, ta chán nản mà bỏ dở công việc. Những luật sinh lý và tâm lý ấy có những áp dụng vào sự rèn nghị lực mà tôi sẽ chỉ trong phần II.

4. Có ai thiếu hẳn nghị lực không ?
Trước khi qua chương, tôi cần phải đánh đổ một niềm tin tưởng sai lầm rất hại cho sự rèn luyện của ta. Nhiều người nghĩ rằng nghị lực là một năng lực kỳ diệu trời cho mới được và giúp ta làm những việc phi thường. Tôi xin nhắc lại, nghị lực gồm ba năng lực chứ không phải là một năng lực; ba năng lực ấy ai cũng có, chỉ trừ những kẻ bệnh tật nặng, mà đầu chương sau, tôi sẽ xét tới. Ai là người mỗi ngày hoặc mỗi tuần không suy nghĩ, quyết định rồi thực hành một việc gì đó nhỏ hay lớn? Sáng chủ nhật trước, bạn thức dậy, do dự không biết nên đi thăm một người quen hay đi xem hát bóng , sau bạn nhất định đi thăm người đó và điểm tâm xong, bạn thay quần áo đi liền. Như vậy là bạn có nghị lực rồi đấy. Làm việc đó, bạn không cần có nghị lực lớn, và tuy chưa được hân hạnh biết bạn, tôi cũng có thể nói chắc mà không sợ lầm rằng đã có ít nhất là vài lần bạn tỏ ra có nghị lực khá mạnh. Bạn nhớ lại, từ trước tới nay, đã làm được việc gì khó khăn chưa? Hồi còn đi học, gần tới kỳ thi ra trường, bạn đã thức khuya dậy sớm, nhịn dạo phố, coi hát để ôn bài chứ? Rồi lúc tản cư, bạn đã có lần nào chân mỏi rã rời mà cũng ráng quẩy đồ trên vai, lết từng bước hàng mấy cây số nữa để tới chỗ nghỉ không? Có ư ? Vậy thì vấn đề: “bạn quả có thiếu hẳn nghị lực không ?” mà chúng ta đã nêu ra ở cuối chương trước, khỏi cần phải bàn nữa, phải chăng bạn ? Một thi sĩ thấy tôi soạn cuốn này, mỉm cười bảo: - Không có nghị lực mới cần rèn nghị lực, mà muốn rèn nghị lực thì phải có nghị lực đã: đã thiếu nó rồi thì làm sao rèn nó được ? Vấn đề rèn nghị lực quả là một vấn đề lẩn quẩn. Lời đó, mới nghe thì chí lý, nhưng hoàn toàn sai chính vì thi sĩ đó, cũng như bạn, nghĩ rằng có những người thiếu nghị lực. Quan niệm sai lầm làm hại biết bao thanh niên! Họ tin rằng không có nghị lực nên tự học không được, tu thân không được, không thành công được, rồi chán nản, sầu tủi nghĩ đến tương lai mờ ám, đến kiếp sống thừa của mình. Họ có thiện chí lắm, thấy điều phải rất muốn theo, thấy cái đẹp rất muốn làm, mà rút cục chẳng làm được gì cả vì không hiểu rõ bản thể của nghị lực. Không! Không một người nào bẩm sinh ra thiếu hẳn nghị lực, chỉ có những người mà nghị lực suy kém hoặc không quân bình thôi. Trong chương sau, chúng ta sẽ xét qua những bệnh đó của nghị lực.

TÓM TẮT 1
Nghị lực không phải là một năng lực độc nhất mà gồm ba năng lực: suy nghĩ, quyết định, thực hành. Người nào cũng có 3 năng lực ấy, nên ta không thể bảo: “Tôi thiếu nghị lực” mà chỉ có thể nói: “Tôi có bệnh về nghị lực”. 2. Về phương diện sinh lý, các nhà bác học chưa định được phần nào trong cơ thể ta điều khiển nghị lực. Chúng ta chỉ mới biết rằng một đời sống hợp vệ sinh, và nhiều hạch như hạch trước cổ ảnh hưởng đến hoạt động tinh thần, và đến nghị lực của ta. 3. Về phương diện tâm lý, người nghị lực có những đức sau này: - Óc sáng kiến. - Tinh thần quyết đoán. - Bền chí, tự chủ. Những đức ấy phải trung hoà, nếu thái quá sẽ thành những tật, hại cho nghị lực.
4. Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nghị lực như
- Thói quen mới đầu giúp cho nghị lực, lâu có thể làm hại nghị lực.
- Sự hiểu rộng biết nhiều giúp ta suy nghĩ, nhưng chính tình cảm nồng nhiệt mới giúp ta quyết định mau và bền chí thực hành.
- Hoàn cảnh xã hội, như những lời khen, chê của người khác, làm tăng hoặc giảm nghị lực của ta.

Những Bệnh Nghị Lực
1. Bệnh mất nghị lực. Có những người bị một chứng bệnh nào nặng quá mà không làm được những cử động họ muốn làm nữa. Chẳng hạn họ khát nước lắm, đòi uống nhưng ly đã kề môi mà họ uống không được; hoặc họ muốn ký tên mà cầm bút cả nửa giờ, mím môi, nghiến răng, cố đưa ngọn bút đến toát mồ hôi mà không sao đưa nổi. Các nhà bác học xét kỹ trường hợp các bệnh nhân ấy, thấy bắp thịt họ bình thường, trí óc họ cũng sáng suốt, mà thực hành điều đã quyết định thì không được. Có lẽ do bộ thần kinh họ hư. Nhưng bảo họ là hoàn toàn mất nghị lực thì cũng chưa hẳn vì người ta đã thấy một ông già muốn đi chơi mà tới ngưỡng cửa thì đứng trân trân, không sao bước được nữa, sau phải có người cõng đặt vào xe hơi; xe chạy và tới khi cán một người đàn bà thì lạ thay! Chính ông già ấy mở ngay cửa xe, nhảy xuống trước hết để cứu nạn nhân. Y học hiện nay chưa giảng được bệnh ấy. Bỏ trường hợp đặc biệt và rất hiếm đó đi, còn những bệnh khác về nghị lực đều là những bệnh thông thường mà tôi chia làm ba hạng tuỳ theo bệnh về sáng kiến, về quyết định hoặc hoạt động. Sự phân loại như vậy rất miễn cưỡng – vì quyết định cũng cần sáng kiến mà hoạt động với quyết định nhiều khi không thể tách rời nhau được – song cuốn này không phải là khảo cứu về y học hay tâm lý mà có tính cách rất thực tiễn là giúp độc giả rèn nghị lực, nên tôi giữ sự phân loại ấy cho dễ trình bày.

2. Bệnh về sáng kiến, suy xét
Người nhu thuận / Người bạo loạnBệnh về sáng kiến.
Như tôi đã nói, phải có sáng kiến, tự vạch con đường đi thì mới gọi là có nghị lực. Người thiếu sáng kiến là người nhu thuận, trái với nhu thuận là bạo loạn. - Ai cũng biết có những người đàn ông mà nhu mì như đàn bà. Hồi nhỏ sống với cha mẹ thì đúng như câu tục ngữ “cha mẹ đặt đâu ngồi đấy”. Cha mẹ muốn cái gì, họ ngoan ngoãn vâng lời, không hề suy nghĩ thắc mắc về vấn đề này, vấn đề nọ, hình như họ không có cả đến cá tính nữa. Lớn lên, khi thành gia , họ để mặc vợ lo toan mọi việc, từ việc ăn mặc đến việc xử thế, nhất thiết vợ chỉ cho cả; vợ bảo bận chiếc áo này thì họ bận, bảo đeo chiếc cà vạt kia thì họ đeo, đeo xong, giá vợ có bảo cởi ra thì họ cũng cởi, chẳng hề lấy làm lạ. Có lẽ họ là những người sướng nhất đời; nhưng họ có thấy rằng họ sướng không, điều ấy còn ngờ lắm. Không nên lầm hạng người vì quý mến cha mẹ mà vâng lời hoặc vì tính tình hợp với vợ mà hành động như vợ. Những người này tính tình bình thường, còn hạng người nhu thuận là những kẻ có bệnh mà nguyên do bệnh đó là một vài hạch nào trong cơ thể không phát triển điều hoà, cần có y sĩ chuyên môn trị mới hết. - Trái lại, có những người nhiều sáng kiến quá đến nỗi phản kháng ý kiến của bất kỳ ai; hồi nhỏ không chịu vâng lời cha mẹ, nhất định làm theo ý mình. Hạng người đó khó thành công vì không được ai giúp, chỉ trong những thời loạn may ra làm nên, song cũng không bền. Nguyên do cũng tại một hạch nào đó phát triển quá độ.

3. Bệnh về quyết định
Người phải bắt buộc mới chịu.
Bệnh về quyết định - Chúng ta cứ tưởng làm người ai mà không muốn được tự do; nhưng không, có những người không thích tự do: họ muốn có một quyền lực nào ép buộc họ và nếu để họ tự do thì họ chẳng chịu làm gì cả. Họ không thiếu sáng kiến, nhưng không chịu quyết định, để người khác quyết định giùm họ rồi thúc đẩy họ, họ mới miễn cưỡng chịu tiến. Hai thi hào Baudelaire và Gérard de Nerval tiêu biểu cho hạng đó. Chỉ khi nào chủ nợ lại la ó, hoặc nhà xuất bản lại doạ nạt, hai nhà đó mới chịu viết. Họ phàn nàn rằng người ta thúc họ hoài, bắt họ viết vội viết vàng, nên văn thơ không được như ý, nhưng nếu không giục họ thì chắc chắn họ chẳng viết được gì cả mà có viết thì có lẽ cũng không hay. Chẳng phải riêng nhiều nghệ sĩ có tâm trạng đó đâu, nhiều nhà doanh nghiệp cũng chỉ trổ tài được trong những lúc gấp rút. Hồi đi học cũng vậy, nhiều bạn trẻ đợi gần tới kỳ thi mới học; bảo họ dự bị sẵn sàng từ đầu năm đi, họ nhận là phải, song thú thực là học trước như vậy “không vô”, tinh thần không được kích thích mà thiếu minh mẫn. Những học sinh đó ra trường rồi, không còn gì bắt buộc học nữa, không phải thi cử nữa, tất liệng sách vở đi liền. Thần kinh họ có suy nhược không? Ta không biết. Bạn ở trong trường hợp đó nên kiếm một người thân để thúc đẩy mình, và tự mình phải tập bó buộc mình
- Lại có những người hay thay đổi quyết định quá, thành ra bất thường. Họ như con bướm, đậu bông này một chút rồi bay qua bông khác. Nguyên nhân có thể là do họ quyết định vội vàng quá, không chịu cân nhắc kỹ, nên phải quyết định lại. Nhưng thường khi là họ không đủ kiên nhẫn theo đến cùng. Trong trường hợp này, bệnh của họ thuộc về hoạt động hơn là về quyết định. Khi đau ốm, họ thử đủ thứ thuốc, nhưng thuốc nào họ cũng chỉ uống một hai thang, hoặc chích vài ba mũi rồi bỏ. Ra làm ăn, họ thử đủ các nghề, chưa biết kỹ nghề nào đã chán, lựa nghề khác. Người Pháp ví họ như những viên đá, lăn hoài, rêu bám vào không được. Có khi họ không biết họ muốn gì, có lẽ vì họ không muốn gì hết, ngoài sự mới mẻ, sự thay đổi. Nếu vậy thì quả là chí họ chưa định và bệnh của họ có thể sắp vào loại “bệnh về sáng kiến”.

4. Bệnh về hoạt động
- Người mê lý tưởng
- Người không tưởng
- Người lý sự
- Người bi quan
- Người ưa châm biếm
- Người không thể chú ý được
- Người quá hăng hái
Bệnh về hoạt động Trong xã hội nhan nhản những người có sáng kiến mà thực hành không được vì kém hoạt động.
- Có khi lý trí lấn áp tình cảm, ý tưởng lấn áp lòng muốn mà người ta thiếu hoạt động. Đó là trường hợp những người mê lý tưởng. Họ chẳng làm việc gì hết vì thấy chẳng có việc gì đáng làm; hoặc nếu có việc đáng làm thì họ đợi cho có đủ điều kiện này, điều kiện nọ để làm cho được hoàn toàn, rồi mới chịu làm. Bạn rủ họ đi chơi Huế, họ đáp: - Huế rất đẹp, có nhiều di tích, cảnh lại nên thơ, nên đi lắm; nhưng trước khi thăm Huế, phải coi hết những tích ở Bắc Việt đã, rồi lần theo bước đường Nam tiến của tổ tiên mà tới Huế. Lại phải thu thập đủ tài liệu về Huế đã chứ! Bạn thấy họ hiểu biết nhiều về hội hoạ, hỏi họ sao không viết sách phổ thông môn đó, họ cười:
- Viết thì phải viết cho đàng hoàng, không có chỗ chê. Phải thu thập đủ các bức danh hoạ cổ kim, đông tây rồi in hình màu trên giấy láng để độc giả thưởng thức. Một cuốn như vậy bán mấy ngàn đồng, ai mua ? Họ luôn luôn có luận điệu đó, nên họ có thể rất thông minh mà hoàn toàn bất lực, vô ích cho xã hội. - Khi lý tưởng của họ không có tính cách thực tế thì họ hoá ra không tưởng. Chẳng hạn họ nặn óc, lập những chương trình vĩ đại để diệt tận gốc chiến tranh trong hai mươi bốn giờ hoặc để diệt nạn mù chữ trên khắp thế giới trong nửa tháng. Họ mơ mộng viễn vông như vậy và gặp ai cũng đem ra bàn, bắt mọi người phải nghe và phải góp ý, nghĩa là phải khen vì họ không chịu ai chê họ hết. - Có người lý luận chu đáo quá đến nỗi không muốn hoạt động nữa. Họ nghèo, vợ con nheo nhóc, bảo họ làm nghề này nghề nọ để kiếm tiền, thì họ trầm ngâm suy nghĩ, tính toán từng li từng tí, đoán trước mọi sự trở ngại, mọi sự khó khăn xa hay gần, có thực hay tưởng tượng. Mở một quán tạp hoá ở đầu đường ư ? Ừ, ý đó có vẻ được đấy; nhưng để tính xem nào, có thành công được không đã chứ. Khu này, dân cư nghèo mà đã có ba tiệm tạp hoá rồi, mình mở thêm nữa, e không có lợi. Họ lý luận có vẻ xác đáng lắm, nhưng hình như chỉ ráng lý luận để chứng thực rằng chẳng nên làm gì cả. Tôi gọi họ là hạng lý sự. Thường thường hạng này hay bi quan, chỉ tưởng tượng toàn những nỗi khó khăn, làm ruộng thì sợ trâu chết, sợ nước lụt, sợ chuột, sợ còng; buôn bán thì sợ dân nghèo không có tiền mua, sợ giá hàng sẽ lên, khó bán, sợ người ta ăn cắp ăn nảy… Tệ hại nhất là khi họ đã chẳng làm gì mà còn châm biếm những người làm được việc. Họ đi đâu cũng kiếm cách giội những thùng nước lạnh vào lòng hăng hái của kẻ khác. Bạn giúp đỡ một gia đình nghèo ư? Họ bảo: còn những gia đình này nọ nghèo hơn, sao không giúp? Sao không giúp hết những kẻ khốn khó ở Bắc, ở Trung, ở châu Phi, châu Mỹ? Bạn hăng hái viết sách, họ hỏi: “Viết cho ai đọc đấy ? Tính xem bán được năm trăm cuốn không? Kiếm được bao nhiêu tiền? Công phu sáu tháng có bằng một cú áp phe của người này người nọ không ? Hay là tiên sinh muốn lưu danh thiên cổ đấy ?…” - Nhưng có một số người rất đáng thương. Họ không thể làm được việc gì vì không thể chú ý được lâu. Xưa nay, có lẽ chưa có người đa tài bằng Coleridge, sinh ở nước Anh cuối thế kỷ 18. Ông lý luận giỏi hơn các triết gia, tưởng tượng phong phú như một thi sĩ, và có nhiều sáng kiến kỳ dị. Vấn đề nào ông cũng hiểu rõ, làm cho hết thảy các người đương thời phải bái phục. Người ta bảo ông có hàng trăm dự định mà chẳng chịu thực hành một dự định nào cả. Một lần, ông xuất khẩu thành nhiều bài thơ rất hay, đọc cho một nhà xuất bản nghe. Người này chịu trả trước cho một số tiền, còn bao nhiêu hễ ông chép xong những bài thơ đó là trả nốt. Chỉ có việc chép lại mà ông làm cũng không được, cứ mỗi tuần lại quỵ luỵ, khúm núm năn nỉ nhà xuất bản thí cho một số tiền để tiêu. Thực nhục nhã. Có phải tại ông nghiện rượu và thuốc phiện từ hồi trẻ mà mắc chứng bệnh nghị lực đó không ? - Những hạng người kể trên, vì lẽ này hay lẽ khác mà thiếu hoạt động, còn hạng người dưới đây mắc tật ngược lại là hăng hái quá trong khi hoạt động. Họ không hề biết do dự, luôn luôn quyết định rất mau, rồi thực hành liền, không bao giờ lùi bước. Người ta bảo họ lầm lẫn, họ không chịu, cứ tiến tới, gần như mù quáng, không thấy trở ngại rành rành trước mắt. Họ độc tài, không nghe ai và bắt mọi người theo mình. Đôi khi họ thành công rực rỡ song thường thì thất bại. Họ có nhiều nghị lực quá và đó cũng là một thứ bệnh. Họ làm nô lệ nghị lực của họ, nhắm mắt đưa đầu đi trước. Người biết kiên nhẫn, tuỳ cơ ứng biến mới là khôn, còn họ chỉ là hạng cuồng, xuẩn.

TÓM TẮT
Trừ trường hợp rất hiếm của những người vì mắc một bệnh nào nặng đến nỗi mất nghị lực trong một thời gian, còn thì ai cũng có nghị lực và những người tưởng rằng mình thiếu nghị lực, thực ra chỉ là có bệnh về nghị lực. Những bệnh đó có nhiều loại, hoặc thuộc về óc sáng kiến, suy xét hoặc về sự quyết định, sự hoạt động. Ta nên xem bệnh nghị lực của ta thuộc về loại nào mà tìm cách trị bằng y học hay tâm lý.

Câu chuyện bông hồng hay Sức mạnh của sự tập trung



Ở một vùng quê nọ, có hai cha con một nhà buôn hoa đang sinh sống trong một khu vườn rộng lớn mênh mông là hoa. Người cha thì tính tình chăm chỉ, yêu lao động và là một người được cả xã hội công nhận về sự thành công trong lĩnh vực trồng hoa. Còn người con thì rất có nhiều tài - Anh được lớn lên trong vòng tay yêu thương và sự đầy đủ vật chất mà người cha ban cho - anh đã học được rất nhiều nghề, làm được rất nhiều điều hay ho. Nhưng ở tuổi 35 - anh vẫn là một người vô danh trước xã hội.

Anh luôn suy nghĩ về điều này, anh vẫn không thể hiểu nổi, tại sao anh đa tài thế, làm nhiều điều hay thế mà đến giờ anh vẫn chỉ là người vô danh.

Người cha hiểu ý anh, liền đưa anh đến vườn hoa mà ông chuẩn bị thu hoạch. Ông chỉ vào bông hồng to nhất, đẹp nhất và rực rỡ nhất nằm giữa vườn cho anh con trai và hỏi:

- Con có biết tại sao bông hồng kia lại to và đẹp rực rỡ hơn các bông hồng khác không?

- Có phải vì cha mua giống mới không?

- Không phải - người cha đáp - tất cả đều chung một giống hoa con ạ.

- Thế có phải cha tưới cho nó nhiều nước và bón cho nó nhiều chất dinh dưỡng hơn không?

- Cũng không phải. Tất cả điều kiện chăm sóc và môi trường sinh trưởng của chúng đều giống nhau.

- Vậy thì chắc là đất ở chỗ đó tốt hơn rồi cha nhỉ?

- Con lại sai rồi. Đất đều giống nhau.

Người con không biết trả lời sao nữa. Anh nghĩ hoài, nghĩ mãi, nghĩ mãi... nhưng vẫn không thể giải thích nổi tại sao lại như thế.

Lúc này, người cha mới ôn tồn bảo :

- Con có nhận thấy bông hồng này ít lá và ít nụ không?

- À đúng rồi. Nhưng có nghĩa là gì hả cha?

- Trong vườn hồng này, chỉ duy nhất có bông này là ta thường xuyên nhìn tới. Khi thấy nhiều lá mọc quanh nó quá, ta tỉa bớt. Khi thấy nó có nhiều chồi, nhiều nụ đâm ra, ta cũng tỉa.

Người con có vẻ hiểu ra điều gì đó, gật đầu liên tục. Người cha tiếp lời:

- Tất cả bông hồng đều có điều kiện sống như nhau, nhưng bông hồng này lại được một đặc ân của ta là tỉa bớt các cành, nụ và lá nên các chất dinh dưỡng sẽ được tập trung vào bông hoa mà không bị phân tán đi nơi khác. Chính vì thế mà nó sẽ trở nên to hơn, khỏe hơn, đẹp hơn và rực rỡ hơn hẳn những bông còn lại.

Trầm ngân một lúc ông lại tiếp tục :
- Cũng như con, con trai của ta ạ, tuy con rất giỏi, rất nhiều tài, con làm được rất nhiều việc nhưng con vẫn giống như những người khác là vì con thiếu sự tập trung, con bị phân tán năng lương và thời gian vào quá nhiều thứ. Con cần phải xác định lại con sẽ trở thành người như thế nào trong 5 năm tới - con đam mê gì nhất, điều gì khiến cho con trăn trở nhiều nhất, điều gì khiến cho con có thể sống chết với nó mà không quản khó khăn? Lúc đó con sẽ là người thành công, con trai ạ.

Lúc này, người con đã hiểu ra tất cả vấn đề. Anh khóc và quỳ xuống hôn vào tay người cha và cảm ơn rối rít - cảm ơn người cha về câu chuyện giúp anh nhìn nhận cuộc đời tốt hơn...

 

Vậy đấy các bạn ạ. Ai trên đời đều có nhiều mối quan tâm, nhiều sự lựa chọn trong cuộc sống, trong sự nghiệp. Nếu không biết cách tỉa bớt những điều khác đi để tập trung cho điều mình mong muốn nhất thì mãi mãi người đó vẫn là người vô danh như những con người khác.

MUỐN THÀNH CÔNG - BẠN PHẢI HIỂU ĐƯỢC SỨC MẠNH CỦA SỰ TẬP TRUNG.
Posted Image

SỨC MẠNH CỦA TỰ ÁM THỊ

Theo định nghĩa trong “Từ điển tiếng Việt”, tiềm thức là hoạt động tâm lý của con người mà bản thân người ấy không có ý thức. Những lời nói, hình ảnh, suy nghĩ, bất kể là tiêu cực hay tích cực, được lặp lại nhiều lần đến một lúc nào đó sẽ in sâu vào tiềm thức của con người. Đó là cách tự ám thị dù có chủ đích hay không có chủ đích. Napoleon Hill cho rằng: “Bạn có thể cấy vào trong tiềm thức của mình bất cứ kế hoạch, ý tưởng hay mục đích nào mà bạn khát khao mong muốn biến thành các giá trị vật chất hay tiền bạc tương đương.” Và “Hãy nhớ rằng, tiềm thức của bạn hoạt động bất kể bạn có cố gắng tác động đến nó hay không”. Vậy, hãy chọn cách sử dụng ý thức để khắc sâu vào tiềm thức những niềm tin tích cực.
Việc tự ám thị có chủ đích theo hướng tích cực, như tạo niềm tin về khả năng sẽ đạt được ước mơ, khát vọng của mình thúc đẩy con người hành động mạnh mẽ, kiên trì vượt qua mọi khó khăn thách thức để đạt mục tiêu. Charles F. Kettering, người có 140 bằng phát minh sáng chế và là tiến sĩ danh dự của 30 trường đại học từng khuyên: “Hãy tin tưởng và hành động như thể bạn không bao giờ thất bại”. Tiger Wood, nhà vô địch đánh golf Mỹ kể lại: suốt thời gian bị bắt và bị cầm tù trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, ông ta luôn tưởng tượng trong tâm trí mình sẽ là nhà vô địch đánh golf với những cú đánh hoàn hảo nhất. Khi ra tù và trở về nước ông ta đã hiện thực hóa được những điều tưởng tượng của mình, trở thành nhà vô địch. Tim Daggert và Peter Vidmar, hai vận động viên thể dục dụng cụ Mỹ đã đạt được huân chương vàng trong Thế vận hội Olympic cũng nhờ trong suốt quá trình luyện tập họ luôn tự ám thị mình sẽ là những nhà vô địch với những động tác đẹp nhất, chính xác nhất. Ngày nay phương pháp đó thường được các huấn luyện viên ứng dụng thành công đối với các học vận động viên của mình. Ludwig van Beethoven đã sáng tác những bản nhạc bất hủ sau khi ông bị điếc. Điều đó chứng tỏ ông đã tưởng tượng ra những âm thanh trầm bổng đó trước khi viết ra bản nhạc trên giấy. Quá trình tưởng tượng cần tập trung liên tục trong một thời gian dài với cảm xúc mạnh và hình ảnh rõ ràng đối với những gì mình muốn đạt được để những điều đó khắc sâu vào tiềm thức. Khi đó chính tiềm thức sẽ thúc đẩy con người hành xử một cách nhất quán với điều mình tưởng tượng. Người tạo dựng cho mình niềm tin vào bản thân và tin vào tương lai tươi sáng của mình thì sẽ luôn tập trung nghĩ về những giải pháp sáng tạo, nên không sớm thì muộn sẽ đạt được điều mình mong muốn. Vậy, hãy liên tục tưởng tượng về cuộc sống tương lai khi đạt được mục tiêu mơ ước để luôn định hướng đúng hành động của mình.
Việc tự ám thị theo hướng tiêu cực dù hoàn toàn không có chủ đích cũng gây nên hiệu quả tai hại khôn lường. Hậu quả của việc để những ý nghĩ tiêu cực chế ngự tâm trí là sự hình thành một tính cách tiêu cực – con đường đưa thẳng đến sự thất bại tất yếu. Người tự ám thị mình rằng cuộc sống nghèo khổ là số phận của mình thì cả đời sẽ cam chịu sống nghèo khổ. Người tự ám thị mình không thông minh sẽ mãi mãi chấp nhận làm theo, nói theo mà không bao giờ có sáng tạo gì có ý nghĩa. Tại một trường đại học ở đồng bằng sông Cửu Long có một trường hợp có thật, tiêu biểu cho tác hại của việc tự ám thị theo hướng tiêu cực. Một phó trưởng khoa nọ muốn được cất nhắc lên vị trí trưởng khoa nhưng không đạt được nguyện vọng, nên đâm lòng thù ghét người hiệu trưởng. Để trả thù, người phó trưởng khoa đó bèn viết thư nặc danh tố cáo vị hiệu trưởng với đủ thứ tội lỗi mà mình có thể nghĩ ra. Suốt cả năm trời những là thư nặc danh đó được gởi ngày cáng nhiều đi khắp nơi, từ các trường đại học trong vùng rồi đến lãnh đạo các tỉnh, lên cả lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo và Quốc hội. Những lá thư nặc danh đó không được cứu xét. Mặt khác công an cũng cho biết là không xác định được dấu vân tay trên các lá thư đó. Sự việc cứ tiếp diễn cho đến một ngày việc lặp đi lặp lại quá nhiều lần những điều mình tưởng tượng ra đã gây ra hiệu quả tự ám thị đến mức người phó trưởng khoa đó tin những điều mình tưởng tượng ra là có thật và chấp nhận nó như một sự thật hiển nhiên, đến mức trong bức thư tố cáo cuối cùng, người đó đã ký và ghi rõ tên thật của mình. Theo yêu cầu của vị hiệu trưởng, Ban thanh tra của tỉnh đã làm việc và đi đến kết luận là không có điều nào trong số hơn mười điều tố cáo trong thư là đúng sự thật. Kết quả cuối cùng là người phó trưởng khoa đã bị kỷ luật và ngay chức phó trưởng khoa cũng không giữ được. Đó là thảm họa của sự tự ám thị theo hướng tiêu cực.
Nếu ý thức được sức mạnh của sự tự ám thị thì cần nổ lực thay thế những ý nghĩ tiêu cực bằng việc thường xuyên lặp đi lặp lại nhiều lần các ý nghĩ và hành động tích cực hướng đến mục tiêu và khát vọng của mình. Đó là phương cách hiệu quả nhất để huy động mọi sức mạnh tiềm ẩn trong con người trên hành trình đến thành công. Napoleon Hill có lời nhắc nhở chí lý: “Thiên nhiên ban tặng cho con người quyền kiểm soát tuyệt đối một thứ duy nhất, đó là tư tưởng”. Vậy hãy luôn là người chủ khôn ngoan, sáng suốt của tâm trí mình.

Thứ Tư, 29 tháng 5, 2013

KHÍ CHẤT

1.Khái niệm
Khí chất là một thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân mang tính ổn định và độc đáo. Nó quy định sắc thái diễn biến tâm lý trong hoạt động tâm lý của con người.
Trong các đặc điểm tâm lí để phân biệt người này với người khác thì khí chất có tầm quan trọng nhất. Từ xưa người ta đã nhận thấy có những khác biệt cá nhân rõ rệt trong những đặc điểm bên ngoài của hành vi. Ví dụ như có người thì nhanh nhẹn, hoạt bát, cởi mở, dễ thích nghi có người thì lại chậm chạp, khép kín khó thích nghi; có người thì bình thản, ung dung; có người thì lại luôn tất bật, vội vàng.
Những đặc điểm của khí chất chỉ thuần túy là các biểu hiện bên ngoài của hành vi và ta không thể đánh giá về mặt đạo đức của con người thông qua các đặc điểm này được. Khí chất chỉ phản ánh sắc thái hoạt động tâm lí của con người về mặt cường độ, tốc độ, nhịp độ của những động tác, cử chỉ... mà thôi.
Khí chất không định trước giá trị đạo đức và giá trị xã hội của cá nhân. Người có khí chất khác nhau có thể có chung một giá trị đạo đức. Hoặc những người có khí chất như nhau thì lại có những giá trị đạo đức và xã hội rất giống nhau.
Khí chất không định trước những nét tính cách mà chỉ có quan hệ chặc chẽ với tính cách.
Khí chất không định trước trình độ của năng lực
Như vậy không một thuộc tính nào của nhân cách lại do khí chất tiền định. Nhưng sự thể hiện của tất các thuộc tính của nhân cách điều bị phụ thuộc vào khí chất trong những mức độ nhất định.

2.Một vài nét về lịch sử nghiên cứu khí chất
Hypocrat một bác sĩ người Hy Lạp (460 – 356 TCN) là người đầu tiên phát hiện ra các loại khí chất của con người. Theo ông thì trong cơ thể người có bốn chất lỏng: máu, chất nhờn, mật vàng, mật đen. Và tùy thuộc vào tỉ lệ và mối quan hệ của các chất dịch này mà con người có những hành vi khác nhau.
Sau đó, Galen (130 – 250) bác sĩ người La Mã đã hoàn thiện học thuyết của Hypocrat qua việc phân chia khí chất thành bốn kiểu cơ bản dựa vào các chất dịch chiếm ưu thế
a.Kiểu Xănghanh (kiểu linh hoạt)
b.Kiểu Phlêmatic (kiểu trầm)
c.Kiểu Côlêric (kiểu nóng)
d.Kiểu Mêlangcôlic (kiểu ưu tư)
Khoa học phát triển đã gạt bỏ ý kiến cho rằng khí chất phụ thuộc vào quan hệ và tỉ lệ của các chất dịch trong cơ thể. Tuy nhiên cách chia bốn kiểu khí chất trên là khá chính xác về mặt tâm lý. Nên cách chia này vẫn còn giữ được giá trị cho đến ngày nay.
Và cho đến hiện nay thì thuyết thần kinh học của Páplốp đã cho ta một cái nhìn khoa học về khí chất. Theo ông thì cơ sở sinh lý của khí chất là kiểu hoạt động thần kinh cấp cao hay là kiểu hệ thần kinh. Và căn cứ vào ba thuộc tính cơ bản: cường độ, tính linh hoạt, tính câng bằng của hai quá trình thần kinh cơ bản là hưng phấn và ức chế mà Páplốp xếp thành bốn kiểu thần kinh cơ bản tương ứng với bốn kiểu khí chất.

3.Một số đặc điểm về các loại khí chất

a.Kiểu linh hoạt (mạnh, cân bằng, linh hoạt)

Cấu tạo thần kinh: Ức chế cao, hưng phấn cao. Nhịp độ thần kinh nhanh, nhưng không cân bằng giữa ức chế (buồn) và hưng phấn (vui), lúc quá tải, lúc quá hữu, thay đổi nhanh, thất thường.
Biểu hiện bên ngoài: nói to, nói nhiều, nói mạnh, hành động mạnh mẽ, hay cáu gắt, hay biểu lộ cảm xúc ra ngoài, cởi mở, vồ vập, bạo dạn, chủ động, rất nhiệt tình với mọi người. Tuy nhiên do hay nổi nóng nên cũng hay và dễ làm mất lòng người khác.
Nhận thức mọi sự việc rất nhanh. Về vấn đề tình cảm thì yêu ghét rõ ràng, thường sống thiên về tình cảm, hay để tình cảm lấn át lí trí. Khả năng thích nghi với môi trường cao .
Ưu điểm là nhịêt tình, thẳng thắn bộc trực, quyết đoán, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm. Thường là những người đi đầu trong hoạt động chung. Đặc biệt có khả năng lôi cuốn người khác. Tuy nhiên lại hay vội vàng hấp tấp, nóng nảy, không có khả năng tự kìm chế, lại bảo thủ, hiếu thắng, không kiên trì. Khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn sẽ thường không tự chủ được bản thân. Nhưng lại là người không để bụng. Phù hợp với những công việc chứa nhiều mâu thuẫn và mới mẻ.

b.Kiểu trầm (mạnh, cần bằng, không linh hoạt)

Hưng phấn, ức chế ở mức độ bình thường. Phản ứng, nhịp độ thần kinh rất chậm, không linh hoạt.
Kiẻu người ít nói, nói chắc. Hành vi chậm chạp, không bộc lộ cảm xúc ra bên ngoài, hơi khô khan. Là người khó gần, khó làm quen, cũng khó biết tâm trạng của họ. Mối quan hệ của họ rất hẹp vì họ không thích quan hệ rộng. Khó thích nghi với môi trường sống.
Ưu điểm của họ là chắc chắn, cẩn thận, điềm đạm, làm việc có kế hoạch, biết cân nhắc trước khi hành động, làm chủ được tình huống và vô cùng kiên định. Nên khả năng tiếp thu cái mới lại rất chậm, khá nguyên tắc, cứng nhắc, đôi khi máy móc làm mất thời cơ không cần thiết.
Hiệu quả công việc phụ thuộc vào thời gian gắn bó với công việc đó-càng lâu càng hiệu quả. Phù hợp với công việc đơn điệu,có thể đòi hỏi bảo mật kín đáo: bảo vệ ,tổ chức ,thanh tra điều tra

c.Kiểu nóng (mạnh, không cân bằng)

Phản ứng, nhịp độ thần kinh mạnh, mềm dẻo. Tính cân bằng giữa ức chế và hưng phấn cao. Đặc biệt nói nhiều, nhanh.Hoạt động cũng nhanh nhẹn, hoạt bát. Quan hệ thì vui vẻ dễ gần, có tài ngoại giao nên quan hệ rất rộng nhưng không sâu sắc.
Tư duy, nhận thức nhanh, lắm sáng kiến, nhiều mưu mẹo, hay vội vàng hấp tấp. Có khả năng thích nghi với mọi môi trường hoàn cảnh, tư tưởng rất dễ thay đổi. Đây là laọi người rất linh hoạt trong cuộc sống .
Về tình cảm thì là người dễ phát sinh tình cảm nhưng đa phần không bền lâu, dễ thay đổi. Lạc quan yêu đời, nhanh nhẹn, có tài ngoại giao nhiều sáng kiến, có khả năng tổ chức. Nhưng nhược điểm lại là vội vàng hấp tấp, lập trường không vững vàng, rất hay chủ quan. Làm việc nhanh nhưng chất lượng không cao. Phù hợp với công việc phải thay đổi ấn tượng thường xuyên, hiệu quả công việc lại phù thuộc vào hứng thú đối với công việc đó. Càng phải làm nhiều việc một lúc càng tốt. Phù hợp với công việc ngoại giao hay Maketing.

d.Kiểu ưu tư (thần kinh suy yếu)

Hưng phấn lẫn ức chế đều thấp, nhưng ức chế vẫn trội hơn. Có hệ thần kinh nhạy cảm, nhịp độ phản ứng thần kinh chậm, ít nói, tiếng nói thì nhẹ nhàng, yếu ớt. Hành động thiếu tính bạo dạn, rất rụt rè, nhút nhát. Nhận thức chậm, chắc, có năng khiếu riêng. Không thích đám đông, không thích ồn ào. Thiên về sống nội tâm, không thích quan hệ rộng. Rất chu đáo, ít làm mất lòng người khác.
Về vấn đề tính cảm: kín đáo, sâu sắc, chung thuỷ .Rất khó thích nghi với môi trường hoàn cảnh mới, sợ sự thay đổi.
Ưu điểm của loại người này là có tính tự giác cao, kiên trì trong công việc, làm việc rất cẩn thận, chu đáo. Nhưng hay lo nghĩ, dễ bị tổn thương, hay chịu tác động của môi trường, không chịu được sức ép công việc. Công việc thích hợp là nghiên cứu.
http://www.tamlyhoc.net/diendan/showthread.php?tid=1827

ứng xử quản trị


NHỮNG CẶP PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT


I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHẠM TRÙ

1. Định nghĩa phạm trù và phạm trù triết học

Phạm trù là những khái niệm rộng nhất phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật và hiện tượng thuộc một lĩnh vực nhất định.

Mỗi bộ môn khoa học có hệ thống phạm trù riêng của mình, phản ánh những mối liên hệ cơ bản và phổ biến thuộc phạm vi khoa học đó nghiên cứu. Ví dụ, toán học có các phạm trù “đại lượng”; “hàm số”; “điểm”; “đường thẳng”, v.v. Trong kinh tế chính trị có các phạm trù “hàng hoá”, “giá trị”, “giá trị trao đổi”, v.v.

Phạm trù triết học là những khái niệm chung nhất, rộng nhất phản ánh những mặt, những mối liện hệ bản chất của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Ví dụ, phạm trù “vật chất”, “ý thức”, “vận động”, “đứng im”, v.v phản ánh những mối liên hệ phổ biến không chỉ của tự nhiên mà cả xã hội, tư duy của con người. Phạm trù triết học khác phạm trù của các khoa học khác ở chỗ, nó mang tính quy định về thế giới quan và tính quy định về phương pháp luận.

Phạm trù triết học là công cụ của nhận thức, đánh dấu trình độ nhận thức của con người.


2. Bản chất của phạm trù

Trong lịch sử triết học có nhiều quan điểm khác nhau về bản chất của phạm trù. Có nhà triết học coi phạm trù là có sẵn, có trước con người như I.Cantơ - nhà triết học người Đức. Các nhà triết học thuộc phái duy thực cho những khái niệm (phạm trù) có trước các sự vật riêng lẻ, cá biệt và quy định các sự vật riêng lẻ, cá biệt đó. Các nhà duy danh ngược lại cho rằng, những khái niệm (phạm trù) chỉ là tên gọi, không có nội dung, chỉ có những sự vật riêng lẻ, cá biệt là tồn tại thực, v.v. Những quan niệm trên đều chưa đúng.

Theo triết học duy vật biện chứng, phạm trù không có sẵn bẩm sinh, mà được hình thành trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người, bằng con đường khái quát hoá, trừu tượng hoá những thuộc tính, những mối liên hệ vốn có bên trong bản thân sự vật. Do vậy, nguồn gốc, nội dung phạm trù là khách quan. Mặc dù hình thức thể hiện của nó là chủ quan. Phạm trù có các tính chất sau:

- Tính khách quan. Mặc dù phạm trù là kết quả của tư duy, song nội dung mà nó phản ánh là khách quan, do hiện thực khách quan mà nó phản ánh quy định. Nghĩa là phạm trù khách quan về nguồn gốc, về cơ sở, nội dung, còn hình thức thể hiện của phạm trù là chủ quan.

- Tính biện chứng. Thể hiện ở chỗ, nội dung mà phạm trù phản ánh luôn vận động, phát triển cho nên các phạm trù cũng luôn vận động, thay đổi không đứng im. Các phạm trù có thể thâm nhập, chuyển hoá lẫn nhau. Tính biện chứng của bản thân sự vật, hiện tượng mà phạm trù phản ánh quy định biện chứng của phạm trù. Điều này cho chúng ta thấy rằng, cần phải vận dụng, sử dụng phạm trù hết sức linh hoạt, uyển chuyển, mềm dẻo, biện chứng.

II. CÁI RIÊNG VÀ CÁI CHUNG

1. Khái niệm cái riêng và cái chung

Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình hay một hệ thống các sự vật tạo thành một chỉnh thể tồn tại độc lập với cái riêng khác. Ví dụ, một tác phẩm văn học cụ thể, chẳng hạn tác phẩm “Chiến tranh và hoà bình”; một ngôi nhà cụ thể, v.v.

Cái chung là một phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính giống nhau được lặp lại trong nhiều cái riêng khác. Ví dụ, thuộc tính là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả một quốc gia dân tộc của thủ đô. Thuộc tính này được lặp đi, lặp lại ở tất cả các thủ đô riêng biệt như Hà Nội, Ph-nôm-pênh, Viêng-Chăn, Mát-xcơ-va, v.v.

Cái đơn nhất là phạm trù triết học chỉ những đặc điểm, những thuộc tính vốn có chỉ của một sự vật, hiện tượng, quá trình và không được lặp lại ở các cái riêng khác. Ví dụ, vân tay của mỗi người; số điện thoại (kể cả mã vùng, mã nước luôn là đơn nhất), v.v.

2. Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung

Theo triết học duy vật biện chứng:

- Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng. Ví dụ, cái chung “thủ đô” chỉ tồn tại thông qua từng thủ đô cụ thể như Hà Nội, Ph-nôm-pênh, Viêng-chăn, v.v.

- Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung, vì bất cứ cái riêng nào cũng tồn tại trong mối liện hệ với các cái riêng khác. Giữa những cái riêng ấy bao giờ cũng có những cái chung giống nhau. Ví dụ, trong một lớp học có 30 sinh viên, mỗi sinh viên coi như “một cái riêng”; 30 sinh viên này (30 cái riêng) liên hệ với nhau và sẽ đưa đến những điểm chung: đồng hương (cùng quê), đồng niên (cùng năm sinh), đồng môn (cùng học một thầy/cô), đều là con người, đều là sinh viên, v.v.

- Cái chung là một bộ phận của cái riêng, cái riêng không gia nhập hết vào cái chung. Do đó, cái riêng phong phú hơn cái chung. Tuy nhiên, cái chung sâu sắc hơn cái riêng. Ví dụ, cái chung của thủ đô là thuộc tính “trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của một quốc gia”. Nhưng, từng thủ đô cụ thể còn có nhiều nét riêng khác về diện tích, dân số, vị trí địa lý, v.v. Cho nên, một thủ đô cụ thể - với tư cách là cái riêng - có nhiều đặc điểm, thuộc tính hơn thủ đô (với tư cách là cái chung). Do vậy, cái riêng phong phú hơn cái chung. Nhưng rõ ràng, thuộc tính “trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của một quốc gia dân tộc” sâu sắc hơn, nó phản ánh được bản chất sâu xa, ổn định, bền vững của thủ đô, những thuộc tính về dân số, vị trí, diện tích, v.v không nói lên được bản chất của thủ đô.

- Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hoá lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật. Bởi lẽ, cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay mà ban đầu xuất hiện dưới dạng cái đơn nhất. Dần dần cái chung ra đời thay thế cái đơn nhất. Ngược lại, cái cũ ban đầu thường là cái chung, nhưng do những yếu tố không còn phù hợp nữa nên trong điều kiện mới mất dần và trở thành cái đơn nhất.

3. Một số kết luận về mặt phương pháp luận

Cái chung chỉ tồn tại thông qua cái riêng. Do đó để tìm cái chung cần xuất phát từ nhiều cái riêng, thông qua cái riêng.

Trong hoạt động thực tiễn cần lưu ý, nắm được cái chung là chìa khoá giải quyết cái riêng.

Không nên tuyệt đối hoá cái chung (rơi vào giáo điều); cũng không nên tuyệt đối hoá cái riêng (rơi vào xét lại).

Khi vận dụng cái chung vào cái riêng thì phải xuất phát, căn cứ từ cái riêng mà vận dụng để tránh giáo điều.

Trong hoạt động thực tiễn phải tạo diều kiện cho cái đơn nhất có lợi cho con người dần trở thành cái chung và ngược lại để cái chung không có lợi trở thành cái đơn nhất.
 III. NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ

1. Khái niệm nguyên nhân và kết quả

Nguyên nhân là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tác động qua lại giữa các mặt, các bộ phận, các thuộc tính trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra một sự biến đổi nhất định.

Kết quả là phạm trù triết học dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do nguyên nhân tạo ra. Ví dụ, sự tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố trong hạt ngô là nguyên nhân làm cho từ hạt ngô nảy mầm lên cây ngô. Sự tác động giữa điện, xăng, không khí, áp xuất, v.v (nguyên nhân) gây ra sự nổ (kết quả) cho động cơ.

Cần phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ và điều kiện. Nguyên cớ là những sự vật, hiện tượng xuất hiện đồng thời cùng nguyên nhân nhưng chỉ có quan hệ bề ngoài, ngẫu nhiên chứ không sinh ra kết quả. Ví dụ, Mỹ lợi dụng nguyên cớ chống khủng bố và cho rằng Irắc có vũ khí huỷ diệt hàng loạt để tiến hành chiến tranh xâm lược Irắc. Thực chất, Irắc không có liên quan tới khủng bố và không có vũ khí huỷ diệt hàng loạt như thanh tra của Liên Hợp quốc đã kết luận. Điều kiện là hiện tượng cần thiết để nguyên nhân phát huy tác động. Trên cơ sở đó gây ra một biến đổi nhất định. Nhưng bản thân điều kiện không phải nguyên nhân. Ví dụ, nguyên nhân của hạt thóc nảy mầm là do những yếu tố bên trong hạt thóc tác động lẫn nhau gây nên, nhưng để nẩy thành mầm thì phải có điều kiện về nhiệt độ, độ ẩm, v.v.

Triết học duy vật biện chứng cho rằng, mối liên hệ nhân quả có các tính chất:

Tính khách quan. Điều này thể hiện ở chỗ, mối liên hệ nhân quả là vốn có của sự vật, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Dù con người có biết hay không thì giữa các yếu tố trong một sự vật, hoặc giữa các sự vật vẫn liên hệ, tác động để gây ra những biến đổi nhất định.

Tính phổ biến thể hiện ở chỗ, mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, tư duy đều có mối liên hệ nhân quả. Không có hiện tượng nào không có nguyên nhân của nó.

Tính tất yếu thể hiện ở chỗ, cùng một nguyên nhân như nhau, trong những điều kiện như nhau thì kết quả gây ra phải như nhau. Nghĩa là nguyên nhân tác động trong những điều kiện càng ít khác nhau thì kết quả do chúng gây ra càng giống nhau.

2. Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả

a. Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn có trước kết quả về mặt thời gian. Tuy nhiên, không phải mọi sự nối tiếp nhau về thời gian đều là quan hệ nhân quả. Ví dụ, ngày và đêm không phải là nguyên nhân của nhau. Sấm và chớp không phải nguyên nhân của nhau. Muốn phân biệt nguyên nhân và kết quả thì phải tìm ở quan hệ sản sinh, tức là cái nào sinh ra cái nào.

Một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể, ví dụ: gạo và nước đun sôi có thể thành cơm, cháo, v.v phụ thuộc vào nhiệt độ, mức nước, v.v.

Ngược lại, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân gây ra, ví dụ: sức khoẻ của chúng ta tốt do luyện tập thể dục, do ăn uống điều độ, do chăm sóc y tế tốt v.v chứ không chỉ một nguyên nhân nào.

b. Trong những điều kiện nhất định, nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hoá lẫn nhau. Nghĩa là cái trong quan hệ này được coi là nguyên nhân thì trong quan hệ khác có thể là kết quả. Ví dụ, chăm chỉ làm việc là nguyên nhân của thu nhập cao. Thu nhập cao lại là nguyên nhân để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bản thân.

Kết quả, sau khi xuất hiện lại tác động trở lại nguyên nhân (hoặc thúc đẩy nguyên nhân tác động theo hướng tích cực, hoặc ngược lại). Ví dụ, nghèo đói, thất học làm gia tăng dân số, đến lượt nó, gia tăng dân số lại làm tăng nghèo đói, thất học, v.v.

3. Một vài kết luận về mặt phương pháp luận

- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần tôn trọng tính khách quan của mối liên hệ nhân quả. Không được lấy ý muốn chủ quan thay cho quan hệ nhân quả.

- Muốn cho hiện tượng nào đó xuất hiện cần tạo ra những nguyên nhân cùng những điều kiện cho những nguyên nhân đó phát huy tác dụng. Ngược lại, muốn cho hiện tượng nào đó mất đi thì phải làm mất nguyên nhân tồn tại của nó cũng như những điều kiện để các nguyên nhân ấy phát huy tác dụng.

- Phải biết xác định đúng nguyên nhân để giải quyết vấn đề nảy sinh vì các nguyên nhân có vai trò không như nhau.

- Nguyên nhân có thể tác động trở lại kết quả; do đó, trong hoạt động thực tiễn cần khai thác, tận dụng những kết quả đã đạt được để thúc đẩy nguyên nhân tác động theo hướng tích cực phục vụ cho con người.

IV. TẤT NHIÊN VÀ NGẪU NHIÊN

1. Khái niệm tất nhiên và ngẫu nhiên

Tất nhiên là phạm trù triết học chỉ cái do nguyên nhân chủ yếu bên trong sự vật quy định và trong những điều kiện nhất định, nó nhất định phải xảy ra như thế chứ không thể khác.

Lưu ý: Tất nhiên có quan hệ với cái chung, nhưng không phải cái chung nào cũng là tất nhiên. Cái chung được quy định bởi bản chất nội tại bên trong sự vật thì đồng thời là cái tất nhiên. Ví dụ, cái chung biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động là cái tất nhiên cuả con người. Cái chung về màu tóc, màu da, v.v không phải là cái chung tất nhiên vì nó không quy định bản chất con người.

Tất nhiên có liên hệ với nguyên nhân, nhưng tất nhiên không phải là nguyên nhân. Hơn nữa, không chỉ tất nhiên mà cả ngẫu nhiên cũng có nguyên nhân. Do vậy, không được đồng nhất tất nhiên với nguyên nhân.

Tất nhiên cũng không phải là quy luật vì ngẫu nhiên cũng có quy luật của ngẫu nhiên. Tuy nhiên, quy luật của tất nhiên khác quy luật của ngẫu nhiên. Cái tất nhiên tuân theo quy luật động lực. Nghĩa là quan hệ qua lại giữa nguyên nhân và kết quả là mối quan hệ đơn trị. Ứng với một nguyên nhân chỉ có một kết quả tương ứng. Ví dụ, ta tung vật gì lên cao nhất định nó sẽ phải rơi xuống đất do lực hút của trái đất. Cái ngẫu nhiên tuân theo quy luật thống kê. Nghĩa là quan hệ qua lại giữa nguyên nhân và kết quả là quan hệ đa trị. Ví dụ, gieo đồng xu, chúng ta khó mà biết chắc chắn là đồng xu sấp hay ngửa. Đồng xu sấp hay ngửa sau mỗi lần gieo là ngẫu nhiên.

Ngẫu nhiên là phạm trù triết học chỉ cái không phải do bản chất kết cấu bên trong sự vật, mà do những nguyên nhân bên ngoài sự vật, do sự ngẫu hợp của những hoàn cảnh bên ngoài sự vật quyết định. Ví dụ, trồng hạt ngô (tất nhiên) phải mọc lên cây ngô, chứ không thể lên cây khác. Nhưng cây ngô tốt hay không tốt là do chất đất, thời tiết, độ ẩm bên ngoài hạt ngô quy định. Đây chính là cái ngẫu nhiên.

2. Quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên

a. Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người và đều có vị trí nhất định đối với sự phát triển của sự vật.

Cả cái tất nhiên cả cái ngẫu nhiên đều có vai trò quan trọng đối với sự vật. Tuy nhiên, cái tất nhiên đóng vai trò chi phối đối với sự vận động, phát triển của sự vật, cái ngẫu nhiên làm cho sự vật phát triển nhanh hơn hoặc chậm lại. Ví dụ, đất đai, thời tiết không quyết định đến việc hạt ngô nảy mầm lên cây ngô, nhưng đất đai, thời tiết lại có tác động làm cho hạt ngô nhanh hay chậm nảy mầm thành cây ngô.

b. Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ với nhau, không có tất nhiên cũng như ngẫu nhiên thuần tuý tách rời nhau

Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ với nhau. Sự thống nhất này thể hiện ở chỗ: cái tất nhiên bao giờ cũng vạch đường đi cho mình xuyên qua vô số cái ngẫu nhiên. Nói cách khác, cái tất nhiên bao giờ cũng thể hiện sự tồn tại của mình thông qua vô số cái ngẫu nhiên. Cái ngẫu nhiên lại là hình thức biểu hiện của tất nhiên, bổ sung cho cái tất nhiên. Bất cứ cái ngẫu nhiên nào cũng thể hiện phần nào đó của cái tất nhiên. Không có tất nhiên thuần tuý tách rời cái ngẫu nhiên, cũng như không có cái ngẫu nhiên thuần tuý tách rời cái tất nhiên. Ví dụ, sự xuất hiện vĩ nhân trong lịch sử là tất nhiên do nhu cầu của lịch sử. Nhưng ai là nhân vật vĩ nhân ấy lại là ngẫu nhiên vì không do yêu cầu lịch sử quy định mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác để đưa một nhân vật lên đứng đầu phong trào. Nếu chúng ta gạt bỏ nhân vật này thì nhất định sẽ phải có người khác thay thế.

c. Tất nhiên và ngẫu nhiên trong những điều kiện nhất định có thể chuyển hoá cho nhau

Tất nhiên và ngẫu nhiên trong quá trình vận động của sự vật và trong những điều kiện xác định có thể chuyển hoá cho nhau. Cái này, trong mối quan hệ này được coi là tất nhiên thì trong mối quan hệ khác rất có thể được coi là ngẫu nhiên. Ví dụ, trao đổi hàng hoá là tất nhiên trong nền kinh tế hàng hoá, nhưng lại là ngẫu nhiên trong xã hội nguyên thuỷ - khi sản xuất hàng hoá chưa phát triển.

Vì vậy, ranh giới giữa cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên cũng chỉ là tương đối. Thông qua mối liên hệ này nó là cái tất nhiên, nhưng thông qua mối liên hệ khác nó là cái ngẫu nhiên và ngược lại. Ví dụ, một máy vô tuyến sử dụng lâu ngày, mãi “tất nhiên” sẽ hỏng, nhưng hỏng vào khi nào, vào giờ nào lại là “ngẫu nhiên”.

3. Một số kết luận về mặt phương pháp luận

Cái tất nhiên luôn thể hiện sự tồn tại của mình thông qua cái ngẫu nhiên. Do vậy, muốn nhận thức cái tất nhiên phải bắt đầu từ cái ngẫu nhiên, thông qua cái ngẫu nhiên.

Trong hoạt động thực tiễn cần dựa vào cái tất nhiên, không nên dựa vào cái ngẫu nhiên. Bởi lẽ, cái ngẫu nhiên là cái không gắn với bản chất của sự vật, còn cái tất nhiên gắn với bản chất của sự vật.

Tất nhiên và ngẫu nhiên có thể chuyển hoá cho nhau trong những điều kiện thích hợp nhất định. Do đó, trong hoạt động thực tiễn, cần tạo ra những điều kiện thích hợp để ngăn cản hoặc thúc đẩy sự chuyển hoá đó theo hướng có lợi cho con người. Ví dụ, dựa trên cơ sở quan hệ tất nhiên và ngẫu nhiên này con người có thể uốn cây cảnh theo con vật mình ưa thích, bác sỹ có thể kẹp răng cho trẻ em để răng đều, đẹp, v.v.

V. NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC

1. Khái niệm nội dung và hình thức

Nội dung là phạm trù triết học chỉ tổng hợp tất cả các mặt, các yếu tố, các quá trình tạo nên sự vật.

Hình thức là phạm trù triết học chỉ phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, là hệ thống các mối liện hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật. Ví dụ, chữ “ANH” có nội dung là các chữ cái “A; N; H”, còn hình thức là các chữ cái phải xếp theo thứ tự ANH; giữa 3 chữ cái này có mối liên hệ tương đối bền vững, nếu ta đảo phương thức sắp xếp thì sẽ không còn là chữ “ANH” nữa mà thành chữ khác (Ví dụ, thành chữ NHA hoặc HNA).

2. Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức

a. Giữa nội dung và hình thức có sự thống nhất hữu cơ với nhau

Không có hình thức nào không chứa nội dung, cũng như không có nội dung nào lại không tồn tại trong một hình thức nhất định. Nội dung nào sẽ có hình thức tương ứng vậy.

Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức còn thể hiện ở chỗ, các yếu tố tạo thành sự vật vừa góp phần tạo nên nội dung vừa tham gia tạo nên hình thức. Vì vậy, nội dung, hình thức không tách rời mà gắn bó chặt chẽ với nhau. Trong ví dụ chữ ANH ở trên, thì ba yếu tố (ba chữ cái) A,N,H vừa tham gia làm nên nội dung, vừa tham gia cấu thành hình thức. Do vậy, nội dung và hình thức của chữ ANH là thống nhất với nhau.

b. Nội dung giữ vai trò quyết định hình thức trong quá trình vận động, phát triển của sự vật

Trong quan hệ thống nhất giữa nội dung và hình thức thì nội dung quyết định hình thức. Nội dung biến đổi nhanh, hình thức thường biến đổi chậm hơn nội dung. Do vậy, hình thức khi ấy sẽ trở nên lạc hậu so với nội dung và kìm hãm nội dung phát triển. Hình thức sẽ phải thay đổi cho phù hợp với nội dung.

Khi nội dung thay đổi thì sớm hay muộn hình thức cũng thay đổi theo. Ví dụ, lực lượng sản xuất là nội dung còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất. Do vậy, khi lực lượng sản xuất thay đổi thì sớm hay muộn quan hệ sản xuất phải thay đổi theo cho phù hợp với lực lượng sản xuất.

c. Nội dung và hình thức có tính độc lập tương đối với nhau, mặc dù bị quy định bởi nội dung, nhưng hình thức có tính độc lập tương đối so với nội dung nên có thể tác động trở lại nội dung. Điều này thể hiện ở chỗ:

Một nội dung có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Ví dụ, cùng là quá trình giáo dục đào tạo (gồm đội ngũ giáo viên, người học, cơ sở trường lớp, v.v) nhưng có thể thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau (đó là cách thức tổ chức phân công việc dạy và học, sử dụng giảng đường, v.v khác nhau). Cùng một hình thức có thể thể hiện những nội dung khác nhau. Ví dụ, cùng một hình thức giảng dạy như nhau nhưng được thực hiện trong những điều kiện, môi trường, khu vực khác nhau và với những kết quả khác nhau.

Hình thức cũng có tác động đối với nội dung, nhất là khi hình thức mới ra đời, theo hướng hoặc là tạo điều kiện, hoặc kìm hãm nội dung phát triển. Nếu hình thức phù hợp với nội dung sẽ thúc đẩy nội dung phát triển. Ngược lại, nếu hình thức không phù hợp với nội dung sẽ kìm hãm nội dung phát triển. Ví dụ, nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Ngược lại, nếu quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển.

3. Một số kết luận về mặt phương pháp luận

Vì nội dung và hình thức về cơ bản luôn thống nhất với nhau. Vì vậy, trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần chống khuynh hướng tách rời nội dung khỏi hình thức cũng như tách hình thức khỏi nội dung.

Phải biết sử dụng sáng tạo nhiều hình thức khác nhau trong hoạt động thực tiễn. Bởi lẽ, cùng một nội dung có thể thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau; đồng thời, phải chống chủ nghĩa hình thức.

Vì nội dung quyết định hình thức, nhưng hình thức có ảnh hưởng quan trọng tới nội dung. Do vậy, nhận thức sự vật phải bắt đầu từ nội dung nhưng không coi nhẹ hình thức. Phải thường xuyên đối chiếu xem xét xem giữa nội dung và hình thức có phù hợp với nhau không để chủ động thay đổi hình thức cho phù hợp.

Khi hình thức đã lạc hậu thì nhất thiết phải đổi mới cho phù hợp với nội dung mới, tránh bảo thủ.

VI. BẢN CHẤT VÀ HIỆN TƯỢNG

1. Khái niệm bản chất và hiện tượng

Bản chất là phạm trù triết học chỉ tổng hợp tất cả các mặt, các mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định ở bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật đó. Ví dụ, trong xã hội có giai cấp bản chất của nhà nước là công cụ chuyên chính của giai cấp thống trị về kinh tế trong xã hội. Bản chất này được thể hiện ra dưới nhiều hình thức cụ thể khác nhau phụ thuộc vào tương quan giai cấp trong xã hội.

Bản chất gắn bó với cái chung nhưng không phải cái chung nào cũng là bản chất. Chỉ những cái chung nào quy định sự vận động, phát triển cảu sự vật mới là cái chung bản chất. Bản chất và quy luật là những phạm trù cùng bậc, tuy nhiên bản chất rộng hơn, phong phú hơn quy luật.

Hiện tượng là phạm trù triết học chỉ cái là biểu hiện ra bên ngoài của bản chất. Ví dụ, hiện tượng thể hiện bản chất của nhà nước (là công cụ chuyên chính của giai cấp thống trị về kinh tế trong xã hội) như là: đàn áp sự phản kháng của các giai cấp đối địch; lôi kéo các giai cấp khác về phía mình, v.v.

2. Quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng

a. Bản chất và hiện tượng thống nhất trong sự vật. Điều này thể hiện:

Bản chất bao giờ cũng bộc lộ ra qua hiện tượng, còn hiện tượng bao giờ cũng là sự thể hiện của bản chất nhất định. Bản chất nào thì sẽ thể hiện ra qua hiện tượng ấy.

Không có bản chất thuần tuý tách rời hiện tượng, không thể hiện ra qua hiện tượng và ngược lại, không có hiện tượng nào mà lại không thể hiện bản chất nhất định.

Bản chất khác nhau sẽ bộc lộ ra qua các hiện tượng khác nhau.

b. Thống nhất giữa bản chất và hiện tượng là thống nhất bao gồm mâu thuẫn. Điều này thể hiện ở chỗ:

Bản chất sâu sắc hơn hiện tượng còn hiện tượng phong phú hơn bản chất. Ví dụ, bệnh cúm được thể hiện qua nhiều hiện tượng: ho; sổ mũi, nhiệt độ tăng, v.v. Hiện tượng biểu hiện bản chất dưới dạng cải biến chứ không còn nguyên dạng bản chất nữa. Ví dụ, bản chất ăn bám của nhà nước bóc lột không đơn thuần thể hiện ở chính sách thuế khoá hay bộ máy quan liêu, v.v nữa, mà có thể thể hiện ở việc từ chối đầu tư cho vấn đề môi trường; chạy đua vũ trang, v.v. Bản chất tương đối ổn định, lâu biến đổi còn hiện tượng biến đổi nhanh hơn bản chất. Bản chất ẩn dấu bên trong, hiện tượng bộc lộ ra bên ngoài. Bản chất không được bộc lộ hoàn toàn ở một hiện tượng mà ở nhiều hiện tượng khác nhau.

3. Một số kết luận về mặt phương pháp luận

Bản chất là cái ẩn dấu bên trong hiện tượng. Do vậy, nhận thức sự vật phải đi sâu tìm bản chất, không dừng ở hiện tượng. Phải đi từ bản chất cấp 1 đến bản chất sâu hơn, v.v.

Bản chất không tồn tại thuần tuý ngoài hiện tượng. Do đó, tìm bản chất phải thông qua nghiên cứu hiện tượng. Trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào bản chất để định hướng hoạt động, không nên dựa vào hiện tượng.

Muốn cải tạo sự vật phải thay đổi bản chất của nó chứ không nên thay đổi hiện tượng. Thay đổi được bản chất thì hiện tượng sẽ thay đổi theo. Đây là quá trình phức tạp không được chủ quan, nóng vội.

VII. KHẢ NĂNG VÀ HIỆN THỰC

1. Khái niệm khả năng và hiện thực

Hiện thực là phạm trù triết học chỉ mọi cái đang tồn tại thực sự trong tự nhiên, xã hội, tư duy.

Khả năng là phạm trù triết học chỉ những xu hướng, những cái đang còn là mầm mống, tồn tại hiện thực trong sự vật, mà trong sự vận động của chúng sẽ xuất hiện khi có điều kiện tương ứng. Ví dụ, cây ngô đã mọc lên từ hạt ngô là hiện thực. Hạt ngô chứa khả năng nảy mầm thành cây ngô, khi có điều kiện phù hợp về nhiệt độ, độ ẩm, v.v thì cây ngô sẽ mọc lên. Có khả năng tất nhiên, ví dụ, gieo hạt ngô xuống đất khi có điều kiện phù hợp mọc lên cây ngô là khả năng tất nhiên (do nguyên nhân bên trong hạt ngô quy định). Trong khả năng tất nhiên lại có khả năng gần, khả năng xa. Khả năng gần là khả năng có gần đủ những điều kiện để trở thành hiện thực. Ví dụ, hàng năm nước ta đều đạt tăng trưởng GDP khá trên 7%/năm. Theo đà này, khả năng nước ta thoát khỏi nước kém phát triển (đạt 1000USD/người/năm) là không xa. Khả năng xa là khả năng mà điều kiện để trở thành hiện thực còn chưa đủ. Ví dụ, khả năng chúng ta hoàn thành sự nghiệp xây dựng củ nghĩa cộng sản là còn xa. Nếu hạt ngô gieo xuống do khô hạn, nóng, v.v mà không nảy mầm được gọi là khả năng ngẫu nhiên (do những nguyên nhân bên ngoài hạt ngô quy định).

2. Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực

a. Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ không tách rời nhau, thường xuyên chuyển hoá lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật.

Điều này nói lên rằng, trong cùng một điều kiện, mỗi sự vật có thể có một số khả năng khác nhau (phụ thuộc vào điều kiện cụ thể). Quá trình vận động, phát triển của sự vật ở một lát cắt nhất định chính là quá trình khả năng trở thành hiện thực. Khi hiện thực mới xuất hiện thì trong nó lại xuất hiện những khả năng mới. Những khả năng mới này, trong những điều kiện cụ thể thích hợp lại trở thành những hiện thực mới. Cứ như vậy, sự vật vận động phát triển vô cùng tận và khả năng, hiện thực luôn chuyển hoá cho nhau. Ví dụ, khi chúng ta thi đỗ đại học và theo học một trường đại học nào đó thì chúng ta có khả năng trở thành kỹ sư, cử nhân. Nếu khả năng trở thành kỹ sư, cử nhân trở thành hiện thực thì sẽ xuất hiện khả năng có việc làm tốt. Nếu khả năng có việc làm tốt được thực hiện thì sẽ làm nảy sinh khả năng có thu nhập cao, v.v.

Trong tự nhiên, khả năng trở thành hiện thực diễn ra một cách tự phát, nghĩa là không cần sự tác động của con người. Trong xã hội, bên cạnh các điều kiện khách quan, muốn khả năng trở thành hiện thực phải thông qua hoạt động thực tiễn có ý thức của con người. Trong ví dụ ở trên, để khả năng trở thành kỹ sư, cử nhân trở thành hiện thực thì chúng ta phải chăm chỉ học tập, nghiên cứu khoa học, v.v.

b. Ngoài những khả năng vốn có, trong những điều kiện mới thì sự vật sẽ xuất hiện thêm những khả năng mới, đồng thời bản thân mỗi khả năng cũng thay đổi theo sự thay đổi của điều kiện. Ví dụ, khi chúng ta ra nhập Tổ chức thương mại thế giới thì khả năng tụt hậu của nước ta so với trước cũng thay đổi. Nếu chúng ta không tích cực vươn lên về mọi mặt thì khả năng tụt hậu còn nhiều hơn trước khi chúng ta ra nhập tổ chức này.

c. Để khả năng trở thành hiện thực thường cần không chỉ một điều kiện mà là một tập hợp nhiều điều kiện. Ví dụ, để hạt ngô nảy mầm cần điều kiện về độ ẩm, nhiệt độ, áp xuất, v.v.

3. Một số kết luận về mặt phương pháp luận

Khả năng là khả năng của sự vật, do đó tìm khả năng của sự vật phải tìm ở chính sự vật, không tìm khả năng của sự vật ở ngoài nó.

Trong hoạt động thực tiễn, chúng ta cần dựa vào hiện thực không nên dựa vào khả năng, tất nhiên phải tính tới khả năng. Bởi lẽ, hiện thực là cái đã tồn tại, đã hiện diện, nó mới quy định sự vận động, phát triển của sự vật.

Sự vật trong cùng một thời điểm có nhiều khả năng vì vậy, trong hoạt động thực tiễn cần tính đến mọi khả năng có thể xảy ra để có phương án giải quyết phù hợp, chủ động.

Để thực hiện khả năng phải tạo cho nó các điều kiện cần và đủ. Do đó, trong hoạt động thực tiễn cần chủ động tạo ra những điều kiện cần và đủ để thúc đẩy khả năng trở thành hiện thực.

Khả năng và hiện thực có thể chuyển hoá cho nhau trong quá trình vận động của sự vật. Vì vậy, cần chủ động thúc đẩy cho những khả năng tốt nảy sinh, hạn chế những khả năng không tốt đối với con người.

TÓM LƯỢC NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GHI NHỚ

Đây là chương dài và rất quan trọng, anh/chị cần ghi nhớ:

1. Quan điểm triết học Mác-Lênin về phạm trù triết học, so sánh với phạm trù của các khoa học chuyên ngành.

2. Nắm được quan điểm triết học Mác-Lênin về 6 cặp phạm trù (định nghĩa từng cặp một, quan hệ biện chứng giữa chúng và ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu các cặp phạm trù này).

3. Khi học mỗi cặp phạm trù nên lấy những ví dụ trong sách và suy nghĩ thêm, so sánh với định nghĩa để hiểu đúng từng phạm trù. Làm được như vậy, anh/chị sẽ thấy hứng thú khi tìm hiểu các cặp phạm trù này. Cố gắng hiểu từng phạm trù theo nghĩa triết học, không hiểu theo ngôn ngữ đời thường.

Chúc anh/chị thành công!

CÂU HỎI SUY LUẬN

Câu hỏi 1: Ta nhìn thấy chớp rồi mới nghe thấy sấm. Vậy chớp có phải là nguyên nhân của sấm không? Tại sao?

Gợi ý: Không phải, thứ nhất, không phải mọi cái nối tiếp nhau về thời gian đều nằm trong mối liên hệ nhân quả, phải xem chúng có quan hệ sản sinh không; thứ hai, dựa vào vận tốc của ánh sáng và sự tác động giữa hai đám mây trái dấu nhau để lý giải. Ánh sáng vận động với tốc độ 333.000km/s, nên mắt con người thường nhìn được, còn sấm bị sức cản của không khí, gió và tốc độ chỉ có 340m/s nên không phải khi nào con người cũng nghe được. Chính sự tác động giữa hai đám mây tích điện trái dấu là nguyên hân gây lên sấm và chớp.

Câu hỏi 2: Tại sao ngày và đêm không phải là nguyên nhân của nhau?

Gợi ý: Xem lại nguyên nhân là gì, kết quả là gì, tính phức tạp của quan hệ nhân quả. Nguyên nhân của ngày và đêm là do sự quay của trái đất xung quanh trục của nó và quanh mặt trời. Do vậy khi bán cầu này là ngày thì bán cầu ngược lại sẽ là đêm vì chính trái đất che mất ánh sáng mặt trời.

Câu hỏi 3: Hãy lập luận, chứng minh rằng, hiện thực và vật chất có quan hệ với nhau nhưng không đồng nhất với nhau?

Gợi ý: Hiện thực là phạm trù triết học chỉ mọi cái hiện đang tồn tại thực sự trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Trong khi đó vật chất là phạm trù chỉ toàn bộ thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức con người. Như vậy vật chất và hiện thực có quan hệ với nhau, nhưng không đồng nhất. Hiện thực rộng hơn vật chất. Hiện thực bao gồm cả vật chất lẫn những yếu tố tinh thần. Do vậy, không được đồng nhất vật chất với hiện thực.

Câu hỏi 4: Hãy phân tích quan hệ giữa khả năng và ngẫu nhiên?

Gợi ý: khả năng là cái hiện có trong xu hướng, khi có điều kiện sẽ xuất hiện. Ngẫu nhiên là cái có thể xảy ra cũng có thể không xảy ra. Hai cái này có điểm chung ở chỗ: đều là cái có trong xu hướng. Cả hai muốn xảy ra còn phải có những điều kiện phù hợp. Để khả năng trở thành hiện thực phải có nhiều điều kiện. Ngẫu nhiên là do những mối liên hệ bên ngoài sự vật quy định. Do vậy, nó có thể xảy ra cũng có thể không xảy ra; có thể xảy ra như thế này, cũng có thể xảy ra như thế khác.

Câu hỏi 5: Có phải chỉ có tất nhiên mới có quy luật còn cái ngẫu nhiên không có quy luật?

Gợi ý: Không phải vậy, theo triết học duy vật biện chứng, cả cái tất nhiên, cả cái ngẫu nhiên đều có quy luật. Có điều, quy luật của cái tất nhiên khác quy luật của cái ngẫu nhiên. Cái tất nhiên tuân theo quy luật động lực, nghĩa là quy luật mà trong đó mối quan hệ qua lại giữa nguyên nhân và kết quả là mối quan hệ đơn trị, tức là chỉ có một kết quả xác định. Cái ngẫu nhiên tuân theo quy luật thống kê, là quy luật mà mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả trong nó là mối quan hệ đa trị (một nguyên nhân có thể có kết quả như thế này, có thể có kết quả như thế khác).

tư duy sáng tạo


KỸ NĂNG TƯ DUY PHÊ PHÁN

Tư duy phê phán (critical thinking)  là quá trình vận dụng tích cực trí tuệ vào việc phân tích, tổng hợp, đánh giá sự việc, xu hướng, ý tưởng, giả thuyết từ sự quan sát, kinh nghiệm, chứng cứ, thông tin, và lý lẽ nhằm mục đích xác định đúng - sai, tốt - xấu, hay - dở, hợp lý - không hợp lý, nên - không nên, và rút ra quyết định, cách ứng xử của mỗi cá nhân.
Tư duy phê phán là nền tảng để phát triển tư duy độc lập, yếu tố không thể thiếu của sự thành đạt, khi con người thường xuyên đối diện với những vấn đề đa dạng phải giải quyết trong cuộc sống. Tư duy phê phán là bước đi thiết yếu dẫn đến tư duy sáng tạo. Phê phán khách quan giúp ta có một cái nhìn tích cực tránh cái sai, xấu, lỗi thời và hướng đến cái mới tốt hơn, hoàn hảo hơn, có ích hơn trên con đường không ngừng sáng tạo.
Tư duy phê phán vận dụng cách nghĩ và lập luận logic với các kỹ năng như phân loại, so sánh, phân tích trình tự, nguyên nhân tác động, mô hình, theo phép diễn dịch, quy nạp, loại suy, tổng hợp, dự đoán, lập giả thuyết, đánh giá, ra quyết định, lập kế hoạch và giải quyết vấn đề. Tư duy phê phán là thuộc tính của những người thành đạt và các nhà khoa học.
Các nhà hiền triết xưa đã rất chú trọng việc dạy kỹ năng phê phán cho người học. Phương pháp dạy của SOCRATES (469 – 399B.C. thầy của Plato, Aristotle) dựa trên cơ sở :
-Sử dụng hệ thống câu hỏi để thẩm tra biện chứng, thông qua kiểm tra chéo để phát hiện các mâu thuẩn, sự không nhất quán của sự việc.
-Dạy bằng cách nêu câu hỏi theo các tiêu chí: sáng tỏ, độ tin cậy, sự đúng đắng, độ chính xác, hợp lý, không thiên vị.
-Phương pháp Socrates là cốt lõi của tư duy phê phán.
SOCRATES, PLATO  yêu cầu người học phải suy nghĩ, tự tìm kiếm thông tin cho mình, tìm tòi những ý tưởng mới và tranh luận trong môi trường học tập.
Đáng tiếc là quan điểm giáo dục, hay nói cách khác là triết lý giáo dục, nặng về truyền đạt, nhồi nhét kiến thức và có phần áp đặt, theo mẫu, thiếu phát huy suy nghĩ độc lập ở nước ta hiện nay, lại trái ngược với phương pháp giáo dục rất khoa học đã có từ hơn hai thiên niên kỷ trước của Socrates.

Breakthrough Thinking

Khái niệm

 Tư duy phân tích và tư duy phê phán đã có khoảng 500 năm trước công nguyên. Hai loại tư duy này chủ yếu là dựa vào thực tiễn quá khứ và dữ liệu hiện tại để phân tích thực trạng, tìm ra vấn đề và đưa ra cách giải quyết vấn đề - thường được gọi là tư duy Descartes. Một nguyên tắc của tư duy phân tích phê phán là càng nhiều dữ liệu càng tốt.
Lý thuyết về Tư duy đột phá do Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Shozo Hibino Đại học Chukyo, Nhật Bản và Giáo sư Tiến sĩ Gerald Nadler, Đại học Nam California, Hoa Kỳ cùng tổng hợp biên soạn trong cuốn sách Tư duy Đột phá đúc kết kinh nghiệm thực tiễn từ 30 năm nghiên cứu về cách thức xử lý vấn đề.
Chúng ta đã bước sang thế kỷ 21, kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức. Trong kinh tế tri thức thì đổi mới sáng tạo là chìa khóa để thành công. Chúng ta không thể cải tiến đèn dầu để có đèn neon, không thể cải tiến tàu cao tốc thành máy bay. Chúng ta không thể giải quyết vấn đề mới bằng tư duy cũ, bằng chuẩn mực cũ. Từ những năm cuối của thế kỷ 20, thế giới đang chuyển sang một trào lưu mới: tư duy đột phá (Breakthrough Thinking). Các Trung tâm Tư duy đột phá được thành lập ở một số nước trên thế giới.

Nguyên tắc cơ bản


1. Tính duy nhất: mỗi vấn đề là duy nhất và yêu cầu giải pháp duy nhất, tuyệt đối không bắt chước.
2. Mục đích tối thượng: tập trung vào mục đích và triển khai mục đích bằng câu hỏi "Mục đích của mục đích, của mục đích… là gì”) để tìm ra mục đích sau cùng, mở rộng các chiều (không gian, thời gian) để giải quyết vấn đề.
Tóm lại , mở rộng mục đích để giúp các bạn bớt đi những hành động vô ích . 
3. Giải pháp sau giải pháp tiếp theo: định ra giải pháp tương lai để chỉ hướng cho giải pháp hiện tại, đặt nó trong tổng thể của giải pháp lớn hơn.
4. Tư duy hệ thống: xét giải pháp trong tổng thể.
Tư duy theo hàm số.
5. Thu thập thông tin tối thiểu: có nhiều thông tin sẽ tạo nên kiến thức chuyên gia, nhưng quá nhiều thông tin chính là một cách hạn chế khả năng giải quyết vấn đề.
6. Lôi cuốn tham gia của số đông: tạo sự phấn khởi, kích thích và kêu gọi mọi người cùng tham gia vào kế hoạch)
7. Thay đổi và cải cách liên tục: trong lúc đang hoàn thiện giải pháp mới, tiếp tục định ra giải pháp tiếp theo để tính đổi mới được liên tục.

Lợi ích

  •  Nhận diện đúng vấn đề và xác định phương cách thực hiện
  • Tập trung vào các giải pháp trong tương lai, không phải vấn đề hiện tại.
  • Tháo dỡ những rào cản để tiếp cận những giải pháp đơn giản
  • Yêu cầu thu thập dữ liệu ít nhất, vì thế chữa trị được căn bệnh phân tích và mổ xẻ
  • Đưa ra những giải đáp mang lại lợi ích lớn hơn về chất lượng, lợi nhuận kinh tế và quỹ thời gian.
  • Đòi hỏi ít thời gian và chi phí hơn để tạo ra những lợi ích đó
  • Thúc đẩy tư duy sáng tạo và những thay đổi chính yếu
  • Cung cấp những giải pháp dài hạn
  • Tập trung thực hiện hiệu quả các giải pháp
  • Xây dựng những nhóm làm việc tự nhiên, lâu dài, và các mối quan hệ cá nhân
  • Sử dụng cái nhìn toàn diện chính xác trong việc giải quyết và phòng ngừa các vấn đề phát sinh
.

Thứ Ba, 28 tháng 5, 2013

Cửa sổ Johari

Khiến từng cá nhân và mọi người trong nhóm hiểu nhau hơn
Cửa sổ Johari là một mô hình giao tiếp dùng để tăng cường hiểu biết giữa từng cá nhân hoặc cá nhân với tập thể. Dựa trên quá trình tự bộc lộ, tự bạch và phản hồi, cửa sổ Johari còn có thể giúp tăng cường mối quan hệ giữa nhóm này với nhóm khác.
Được xây dựng và phát triển bởi Joseph Luft và Harry Ingham (từ Johari là từ viết tắt ghép lại từ hai tên người này), mô hình này có hai ý chính như sau:
1.  Các cá nhân có thể xây dựng niềm tin lẫn nhau bằng cách tiết lộ thông tin về bản thân.
2.  Họ có thể tự học và hiểu thêm về mình và hiểu về những vấn đề về bản thân mình chính từ những phản hồi của người khác
 Bằng việc diễn giải về ý nghĩa của mô hình cửa sổ Johari với nhóm của mình, bạn có thể giúp thành viên nhóm hiểu được giá trị của việc bộc lộ bản thân và bạn có thể khuyến khích thành viên nhóm của mình biết cách biết đưa ra phản hồi với người khác và đón nhận phản hồi từ người khác. Nếu việc này được làm một cách chân tình và nhạy cảm, mọi người trong nhóm sẽ xây dựng được mối quan hệ dựa trên niềm tin với nhau  và sẽ làm việc và hợp tác nhóm hiệu quả hơn.

Giải thích Cửa sổ Johari

Mô hình của sổ Johari gồm 4 một khung với 4 ô (tưởng tượng như một tờ giấy được kẻ một đường dọc chính giữa và một đường ngang chính giữa cắt đường dọc đó và chia tờ giấy thành 4 ô).


Mô hình Johari Window gồm 4 một khung với 4 ô (tưởng tượng như một tờ giấy được kẻ một đường dọc chính giữa và một đường ngang chính giữa cắt đường dọc đó và chia tờ giấy thành 4 ô) như mô hình dưới đây:
Sử dụng mô hình này, mỗi người được đại diện bởi  4 ô hay nói cách khác là  cả cửa sổ. Mỗi cửa sổ thể hiện thông tin về cá nhân – cảm nhận, động cơ – về con người và cho biết những thông tin đó có được người đó hay người khác biết hay không biết.
4 Ô cửa sổ đó là: 
 Cửa sổ  1: Ô Mở
Đây là những gì mà một người biết về mình và những người khác cũng biết.

Cửa sổ 2: Ô “Mù” hay “khoảng tối”
 Những gì một người không biết về mình nhưng người khác bên ngoài lại biết. Đây có thể là những thông tin đơn giản hoặc những vấn đề rất sâu kín (ví dụ như cảm giác không thích hợp với cái gì đó, không có năng lực, không có giá trị với gì đó..) mà người đó không nhận thấy được nhưng những người khác bên ngoài lại thấy.

Cửa sổ 3: Ô Ẩn Đây là những thông tin về bản thân mà một người thấy được về mình nhưng những người khác bên ngoài không thể thấy.
 Cửa sổ 4: Ô Đóng
Khu vực này là những gì có tồn tại trong con người mà bản thân người đó không thấy và những người khác bên ngoài cũng không thấy.
Quá trình mở rộng cửa sổ theo chiều dọc gọi là “tự bạch”, một quá trình cho và nhận thông tin giữa cá nhân khi họ giao tiếp với nhau.
Khi thông tin được chia sẻ, ranh giới với Ô ẩn và Ô đóng bị đẩy dần xuống dưới. Và nó sẽ càng bị đẩy xuống tiếp khi người ta chia sẻ, trao đổi thông tin nhiều hơn và niềm tin được dần xây dựng giữa họ.
Lời khuyên 1:Đừng vội vã tự bạch bản thân quá nhiều. Tự bộc bạch những thông tin vô hại có  thể tạo dựng lòng tin, tuy nhiên những thông tin nhạy cảm có thể làm ảnh  hưởng đến sự tôn trọng của người khác với mình, dẫn đến mình bị đặt trong thế yếu.

Sử dụng công cụ:

Quá trình mở rộng Cửa sổ 1 theo chiều ngang là một trong những quá trình phản hồi. Ở đây một cá nhân nào đó học và hiểu thêm được về bản thân mình mà người khác thấy được nhưng bản thân mình không thấy được.

 Lời khuyên 2:Hãy cẩn thận trong việc phản hồi. Nếu nền văn hóa phương Tây cho phép bạn phê bình và phản hồi một cách thật sự cởi mở thì ngược lại, nền văn hóa phương Đông thường né tránh việc phản hồi quá thẳng thừng. Do đó, hãy nhạy cảm và bắt đầu một cách từ từ.
 Nếu một ai đó muốn hiểu hơn về một cá nhân, họ sẽ trao đổi thông tin bằng cách chia sẻ nhiều hơn những gì nằm trong hai ô bị che lấp là: Ô ẩn và Ô đóng (3,4).

Cửa sổ Johari trong bối cảnh đội nhóm
Hãy nhớ rằng những thành viên cũ của nhóm bao giờ cũng có cửa sổ phần mở lớn hơn những thành viên mới. Một thành viên mới thường bắt đầu bằng ô cửa mở nhỏ hơn vì mới đầu có rất ít thông tin về người này được chia sẻ. Kích thước của cửa sổ Mở này sẽ được rộng ra đẩy theo chiều ngang về phía Ô Mù bằng cách lắng nghe chủ động các phản hồi từ các thành viên khác trong nhóm.
Thành viên nhóm hiện có nên hỗ trợ thành viên mới mở rộng Ô mở của người đó bằng cách đưa ra các góp ý mang tính xây dựng. Kích thước Ô mở còn có thể mở rộng theo chiều dọc sang các Ô ẩn và Ô đóng khi một người chủ động chia sẻ thông tin, cảm nhận của mình và về mình cho nhóm và các thành viên của nhóm.
Ngoài ra  các thành viên nhóm có thể giúp một người mở rộng Ô Mở của mình sang Ô Ẩn bằng cách hỏi thêm về bản thân người đó. Người quản lý và trưởng nhóm đóng vai trò quan trọng ở đây, thúc đẩy phản hồi và tỏ bày, bộc lộ giữa các thành viên nhóm, đưa ra góp ý mang tính xây dựng về các thông tin, nội dung trong Ô Mù của người đó.


Điểm Cốt Lõi:

Trong hầu hết các trường hợp, mục tiêu trong nhóm là mở rộng Ô mở của tất cả mọi người.
Khi chúng ta cởi mở với người khác sẽ làm cho hiệu quả cá nhân và hiệu quả nhóm được nâng cao. Ô Mở là không gian mà ở đó người ta giao tiếp rất tốt, thân thiện và cởi mở với nhau và hợp tác với nhau rất tốt, không có sự hiểu nhầm, xung đột.
Tự bộc lộ bản thân là một quá trình mà ở đó người ta mở rộng Ô ẩn xuống phía dưới. Phản hồi chính là quá trình người ta mở rộng Ô này theo chiều ngang sang bên phải.
Bằng việc khuyến khích và thúc đẩy sự cởi mở, bộc lộ cá nhân một cách lành mạnh và đưa ra những phản hồi nhẹ hàng, bạn có thể xây dựng được một nhóm làm việc hiệu quả.

công thức toán

\[ \left [ - \frac{\hbar^2}{2 m} \frac{\partial^2}{\partial x^2} + V \right ] \Psi = i \hbar \frac{\partial}{\partial t} \Psi \] \[\sqrt {{a^2} + {b^2}} \mathop {\lim }\limits_{x \to \infty } \sqrt {{b^2} - 4ac} \frac{{ - b \pm \sqrt {{b^2} - 4ac} }}{{2a}}\] Địa chỉ bài viết: http://www.traidatmui.com/2013/05/thu-thuat-trinh-bay-cong-thuc-toan-hoc-trong-blogspot-voi-mathjax.html#ixzz2UaxVE7nw Nguồn: TRAIDATMUI.com

Thứ Hai, 27 tháng 5, 2013

Tháp nhu cầu của Maslow

Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs)
Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ... Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày.
Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao. Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân v.v.
Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao này. Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống... họ sẽ không quan tâm đến các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng...

Chi tiết nội dung tháp nhu cầu

 

Cấu trúc của Tháp nhu cầu có 5 tầng, trong đó, những nhu cầu con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp.
Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thoả mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn. Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thoả mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đáp ứng đầy đủ
 Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thoả mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn. Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thoả mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đáp ứng đầy đủ
Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "thể lý" (physiological) - thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi
 Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn (safety) - cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo. Đến đây , no cơm bắt đầu ấm cật .
Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc (love/belonging) - muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy
 Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem) - cần có cảm giác được tôn trọng, kinh mến, được tin tưởng.
 Tẩng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (self-actualization) - muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt.

tập quản tiền

hãy ngay lập tức bắt tay vào thực hành Phương pháp quản lý tài chính sau đây của triệu phú T.Harv Eker

Quản lý tài chính – Quản lý chi phí

Người nghèo: Tiết kiệm = Thu nhập – Chi phí
Người giàu: Chi phí = Thu nhập – Tiết kiệm
Hãy cộng tất cả thu nhập của bạn (lương cứng, lợi tức kinh doanh, thu nhập từ KDTM, được cho…) và phân bổ vào 6 loại quỹ khác nhau. Bạn có thể dùng heo đất, tài khoản ATM, nhưng tốt hơn nên dùng những hũ nhựa trong suốt, có thể nhìn thấy bên trong và dán nhãn lên. 6 quỹ đó bao gồm:

1. Quỹ Tự do tài chính: 10% thu nhập

  • Trả nợ CÓ LÃI SUẤT (giảm tiêu sản)
  • Đầu tư vào tài sản để SINH RA TIỀN (lãi mẹ đẻ lãi con).
Bạn có thể chọn 1 vài kênh sau để đầu tư: Ngân hàng, cổ phần công ty, cho vay. Có thể lúc đầu bạn thấy nó rất nhỏ thôi, nhưng nếu bạn đủ thời gian rảnh rỗi như Energy thì hãy làm 1 phép tính:
Với mức thu nhập 5 triệu 1 tháng, 10% chỉ là 500.000, bạn tiết kiệm 600.000 1 tháng liên tục trong 30 năm, với lãi suất 8% 1 năm bạn sẽ có 700 TRIỆU, với mức lãi suất 15% 1 năm bạn sẽ có 2 TỶ 800 TRIỆU. Ví dụ này để chúng ta có thể hiểu về sức mạnh của việc có 1 lượng tiền để đầu tư hàng tháng. Vì đây là 1 bài viết về quản lý tiền, giữ tiền, không phải bài viết về Đầu tư nên Energy sẽ không bàn them về vấn đề này.
Bạn hãy coi quỹ này như một con ngỗng đẻ trứng vàng, và không bao giờ được GIẾT nó. Đừng bao giờ lấy tiền trong quỹ này ra để làm bất cứ việc gì ngoài 2 việc trên. Bạn cứ thử không dành ra 10% trong 1 tháng xem, có thể bạn sẽ nói 1 tháng không làm đâu có sao ? Bạn của tôi ơi, bạn đã mất nhiều hơn con số đó rất nhiều đấy, theo nguyên tắc Lãi suất kép mà.

2. Quỹ Tiêu dùng dài hạn: 10% thu nhập

  • Trả nợ, có hay không có lãi.
  • Nếu không có nợ, tích lũy nó và mua những món đồ xa xỉ mà bạn thích (VD: xe, điện thoại, quần áo, trang sức, mỹ phẩm…)
Đừng vay tiền mua trước rồi trả sau, vì đó là nguyên nhân dẫn đến hầu hết tình trạng tài chính tồi tệ.

3. Quỹ Giáo Dục: 10% thu nhập

Quỹ này dùng để đầu tư vào chính bản thân chúng ta. Hãy dùng nó để chi trả cho các khóa học, sách, DVD,… và trở thành một người hoàn hảo hơn.

4. Quỹ Hưởng Thụ: 10% thu nhập

Bản thân Energy thì thích quỹ này nhất. Đây là quỹ cho việc ĂN CHƠI và phải theo đúng nguyên tắc sau đây: TIÊU HẾT SẠCH và TIÊU HOÀNH TRÁNG.
Con người chúng ta có phần Con phần Người, vì chúng ta luôn muốn phát triển phần Người, luôn cố gắng hoàn thiện bản thân mà áp chế phần Con, nên lúc phần Con nó bùng nổ ra thì còn nguy hiểm hơn.
Quỹ này chính là để nuôi dưỡng phần Con của bạn một cách đúng mức. Về cách ăn chơi thì: Đừng ăn, chơi ở mấy chỗ bình thường. Vì chỉ khi ăn chơi ở những nơi sung sướng nhất, hoành tráng nhất, thì tiềm thức của bạn mới kích thích, mong muốn những lần ăn chơi hoành tráng hơn, khiến cho bạn có thể kiếm nhiều tiền hơn. Bản thân Energy thì đã có trải nghiệm nhiều lần với những lần ăn chơi thế này. Nhưng hãy nhớ, chỉ ăn chơi trong phạm vi 10% thôi bạn nhé.

5. Quỹ Chia Sẻ: 5% thu nhập

Quỹ này dành để cho đi. Hãy mua những món quà hay làm từ thiện với mục đích chính là giúp đỡ người khác. Đừng nói: “Tôi sẽ cho đi, sẽ giúp đỡ khi tôi nhiều tiền.” thu nhập bạn là 5 triệu bạn còn không dám cho đi 250.000, thế lúc thu nhập bạn là 500 triệu, liệu bạn có dám cho đi 25 triệu không? Energy nghĩ là không!
Nguồn: prosperityjars.com

6. Quỹ Tiêu Dùng Thiết Yếu: 55% thu nhập

Đây mới là quỹ chúng ta dùng để sống và để trả cho người khác. Tất cả những khoản ăn uống, sinh hoạt, chúng ta sẽ lấy từ quỹ này. Mục đích của nó là duy trì cuộc sống.
Nhưng… “Thế thì khó sống lắm, khác gì bạn bảo tôi đang tiêu 5 triệu/tháng thì giờ chỉ được tiê gần 3 triệu/tháng”. Energy xin trả lời bạn: “Chính cách chi tiêu của bạn dẫn đến tình trạng tài chính hiện tại của bạn, và bạn đang TÚNG QUẪN!”
Nhưng … “tiêu 55% không đủ, đi vay được không”. – bạn có biết chính những hành động như thế sẽ nuôi dưỡng thói quen xấu của bạn, và làm cho bạn trở nên như bây giờ không?
Nhưng…
Nhưng…
Bạn sẽ còn rất nhiều lý do nữa, và cuộc sống của bạn trước bất kỳ 1 vấn đề nào, bạn sẽ luôn có những lý do để bao biện. Hãy thay đổi! Hãy làm theo phương pháp của người giàu! Và tôi tin bạn sẽ làm được, sẽ thực sự sung túc, tự do về tài chính. Energy chỉ mong bạn một câu “nhưng” duy nhất: “Nhưng tôi đã có quá nhiều tiền, tôi đã là triệu phú, chia thế này đâu còn hợp lý với tôi”. Lúc đó, bạn hãy chia tiền, quản lý tiền theo ý thích cá nhân của mình.
Nếu trong quá trình quản lý tiền, bạn nào phát sinh những trường hợp chưa biết quản lý thì hãy để lại comment cho Energy nhé. Còn nếu muốn phản bác thì Energy xin lỗi, Energy sẽ không phản hồi lại, vì trong cuộc sống không có ai đúng, ai sai, mà chỉ có người giàu và người nghèo mà thôi.

chữ chạy

I Love You Forever, Nguyễn Lan Ngân

bb code youtube