Lý thuyết hoạt động lời nói chính là sự ứng dụng các nguyên lý của lý thuyết hoạt động trong tâm lý học vào lĩnh vực lời nói.
Lý
thuyết hoạt động lời nói chỉ ra rằng mỗi hoạt động nói năng được đặc
trưng bằng một động cơ và mục đích nhất định. Hoạt động nói năng có ba
mặt: động cơ, mục đích, sự thực hiện. Nó được sản sinh ra từ một nhu
cầu. Chúng ta thường đặt ra các kế hoạch hoạt động và hướng tới một mục
đích cuối cùng đồng thời chúng ta cũng thường dự định các phương tiện
thực hiện kế hoạch ấy. Thông qua hoạt động nói năng chúng ta thực hiện
mục đích đã đặt ra ban đầu. mỗi một hoạt động gồm hệ thống những thao
tác có định hướng. Điều kiện hoạt động sẽ tác động và quy định thao tác.
Như vậy hành động là một quá trình có ý thức, hướng tới một mục tiêu cụ
thể của con người. Hoạt động của con người bao giờ cũng tương ứng với
một động cơ nhất định. Động cơ thôi thúc chúng ta thực hiện các thao
tác, tiến hành hành động để hướng tới mục đích của mình.. Trên thực tế
thì không phải mỗi hoạt động chỉ tương ứng với một động cơ mà nó có thể
đáp ứng hai hay nhiều động cơ khác nhau. Leont’ev đã khẳng định rằng:
đối với một cá nhân cụ thể thực hiện hoạt động nào đó, tất cả các động
cơ tạo thành một tôn ti, đứng đầu là động cơ tạo ý (Ông cũng nêu ra ba
loại động cơ khác nhau: động cơ kích thích, động cơ tạo ý và động cơ mục
đích). Leont’ev đưa ra cấu trúc bốn giai đoạn cho mô hình sản sinh lời
nói:
a. Giai đoạn động cơ phát ngôn
b. Giai đoạn ý đồ (chương trình kế hoạch)
c. Giai đoạn thực hiện ý đồ
d. Giai đoạn đối chiếu việc thực hiện ý đồ với bản thân ý đồ.
Chúng
ta có thể hình dung quá trình sản sinh lời nói theo một trật tự có tính
hệ thống bắt đầu từ động cơ cho tới tư tưởng, ý đồ cho đến sự thực hiện
ý đồ bằng các hoạt động cụ thể. Đây là một cấu trúc có tính nguyên lý
sâu sắc. Quá trình sản sinh lời nói vì thế cũng trở nên cụ thể, rõ ràng.
Ứng
dụng mô hình hoạt động lời nói vào quá trình sáng tạo tác phẩm văn
chương, chúng ta thấy rằng quá trình sáng tạo này cũng trải qua các giai
đoạn như vậy. “Trước hết là giai đoạn hình thành động cơ sáng tạo. Do
một sự thôi thúc nào đó, nhà văn, nhà thơ cảm thấy có nhu cầu phải cầm
bút. Đó chính là cái thường được gọi là cảm hứng. Giai đoạn tiếp theo là
hình thành ý đồ sáng tác, thiết kế đề cương hay sơ đồ của tác phẩm. Sau
đó là giai đoạn thực hiện ý đồ, tức giai đoạn viết. Giai đoạn cuối cùng
đối chiếu việc thực hiện ý đồ sáng tác với bản thân ý đồ ấy đã được
vạch ra ban đầu thông qua công việc sửa chữa và hoàn tất bản thảo”.
Lý
luận văn học cũng khẳng định cảm hứng là khâu đầu tiên và bao trùm trong
sáng tác của nhà văn. “Cảm hứng là một trạng thái tâm lý căng thẳng
nhưng say mê khác thường. Sự căng thẳng của ý chí và trí tuệ, sự dồi dào
về cảm xúc khi đã đạt đến sự hài hòa, kết tinh sẽ bùng cháy trong tư
duy nghệ thuật của nhà văn, dẫn dắt họ đến những mục tiêu da diết bằng
con đường gần như trực giác, bản năng”. Đúng như Nguyễn Quýnh đã nói:
“Người làm thơ không thể không có hứng, cũng như tạo hóa không thể không
có gió vậy”. Cảm hứng với sáng tác nghệ thuật có vai trò tạo nên cái
hồn xuyên suốt trong tác phẩm. Đặc biệt đối với tác phẩm thơ trữ tình.
Cảm hứng trong thơ bao giờ cũng mãnh liệt bởi lẽ “thơ chỉ tràn ra khi
trong tim ta cảm xúc đã thật đầy” (Ngô Thì Nhậm).
Các khâu của quá trình sáng tác cũng được chỉ rõ qua năm giai đoạn. Trước hết là hình thành ý đồ.
Ý đồ sáng tác thường rất phong phú, đa dạng, nó không đứng yên tĩnh tại
mà cũng có sự vận động, phát triển riêng. Đây là giai đoạn đầu tiên
trong quá trình sáng tác. Nó như một động cơ cụ thể có vai trò xác định
phương hướng chung cho một quá trình sáng tác cụ thể . Giai đoạn này là
nền tảng cho các giai đoạn tiếp theo, bởi vì chỉ khi có ý đồ thì nhà văn
mới có thể triển khai quá trình sáng tác của mình. Thứ hai là giai đoạn
thu thập tư liệu. Ý đồ hình thành trên cơ sở đã có ít hay nhiều
tư liệu nhưng khi ý đồ ấy trở nên rõ ràng thì thu nhận tư liệu có ý
nghĩa rất quan trọng. Nó giống như vốn liếng để người ta làm giàu vậy.
Tác phẩm tự sự rất cần đến khâu này. Chẳng thế mà khi viết tiểu thuyết Vỡ bờ,
Nguyễn Đình Thi không chỉ đọc rất nhiều các tác phẩm của Bác Hồ, nghiên
cứu kĩ càng lịch sử Đảng và còn không quên mang theo cuốn sổ nhỏ bên
mình để ghi chép lại cuộc sống chiến đấu của nhân dân ta ở bất kì đâu mà
tác giả được chứng kiến. Tiếp theo là giai đoạn lập sơ đồ sáng tác.
Đây là bước hệ thống hóa lại toàn bộ tư liệu mà tác giả thu thập được
thành một hệ thống. Đồng thời cụ thể hóa ý đồ sáng tác ban đầu, đảm bảo
cho ý đồ được quán xuyến thành một hệ thống mà không rời rạc. Điều đó lý
giải vì sao khi sáng tác tác phẩm Thằng ngốc, Đoxtoiepxki đã nghĩ đến sáu sơ đồ. Sau đó là giai đoạn nhà văn bắt tay vào viết.
Trong quá trình viết có thể sơ đồ ban đầu sẽ được điều chỉnh, tuy nhiên
đây vẫn là giai đoạn khó khăn nhất. Người viết không những phải nghiền
ngẫm mà phải chọn lựa ngôn từ sao cho đúng, phù hợp thể hiện hay nhất ý
đồ của mình. Không ít nhà văn, nhà thơ đã từng chữa đi chữa lại bản thảo
như Nguyễn Đình Thi, có tác giả bản thảo rất sạch, ít tẩy xóa, sửa chữa
như Nam Cao, có người một ngày lại có thể viết đến hàng trăm câu thơ
như Puskin,…Quá trình viết diễn ra không giống nhau ở các nhà văn nhưng
đây chính là lúc tác giả sống bằng tất cả tài năng, tâm huyết với đứa
con tinh thần của mình. Cuối cùng là giai đoạn sửa chữa bản thảo.
Giai đoạn này không đồng nhất với việc tác giả sửa chữa các trang viết
của mình khi chưa hoàn tất mà chúng ta chỉ nói đến sự sửa chữa sau khi
tác phẩm đã được nhà văn viết xong nhưng chưa công bố với công chúng. Đó
là lúc tác giả nhìn ngắm lại sản phẩm của mình, “hoàn thiện nó để đạt
đến tính tư tưởng và nghệ thuật theo ý đồ và mong muốn mới nhất và cao
nhất lúc đó”.
Tất nhiên các
giai đoạn trong khâu sáng tác không phải tách biệt một cách hoàn toàn
độc lập. Trong quá trình sáng tác chúng có thể xen kẽ nhau, thậm chí
thêm bớt tùy theo các thể loại văn học và nhất là tùy từng tác giả khác
nhau. Song đó là năm bước cơ bản của quá trình sáng tạo tác phẩm văn
chương. Nghệ thuật nằm ở trái tim, nó đi từ những rung động trong tâm
hồn nhà văn đến thẳng trái tim độc giả. Việc nhìn nhận quá trình sáng
tác từ góc độ lý thuyết hoạt động lời nói cho phép chúng ta hiểu sâu sắc
hơn, toàn diện hơn về sự ra đời của tác phẩm văn học.
Đó
cũng là một con đường để chúng ta thâm nhập sâu hơn vào tác phẩm văn
chương. Bởi vì tác phẩm văn chương không tồn tại một cách độc lập, không
chỉ dựa vào sự định giá của bạn đọc mà chúng ta cần phải tìm hiểu về cả
tác giả, đặc biệt là quá trình sáng tác để nắm bắt tư tưởng nghệ thuật
đúng với ý đồ mà nhà văn đã gửi gắm. Nói như Vưgotxki thì “Nghệ thuật là
kỹ thuật xã hội của tình cảm…cùng với Geneken, chúng tôi nhìn vào tác
phẩm nghệ thuật như nhìn vào “một tổng hòa các ký hiệu thẩm mỹ nhằm thức
tỉnh các cảm xúc ở con người” và trên cơ sở phân tích các ký hiệu này
chúng tôi cố gắng tạo dựng lại những cảm xúc tương ứng với chúng. Để tìm
hiểu đúng ý nghĩa của tác phẩm văn chương chúng ta phải đặt văn bản văn
học trong một mối quan hệ hệ thống. Trong đó, quá trình sản sinh tác
phẩm cũng cần phải được quan tâm một cách thỏa đáng. Từ việc những cảm
xúc mà tác phẩm đã đánh thức trong ta, chúng ta có thể hiểu được tiếng
lòng của tác giả. Đó cũng chính là sự kì diệu trong kết nối sợi dây tâm
hồn của văn chương nghệ thuật.
TƯ LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Đức Tồn, Tiếng Việt trong nhà trường, NXBKHXH,1997.
2. Phương Lựu chủ biên, Lý luận văn học, NXB Giáo dục, 2006
3. Hữu Châu, Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học, Tạp chí ngôn ngữ, số 2, 1990.
4. L.X.Vugotxki, Tâm lý học nghệ thuật, NXB Khoa học xã hội, Trường viết văn Nguyễn Du, 1995.
5. Khrapchenko, Cá tính sáng tạo của nhà văn sự phát triển của văn học, NXB Tác phẩm mới, 1978.
6. Phương Lựu, Phương pháp luận nghiên cứu văn học, NXB Đại học Sư phạm, 2005.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét