Thứ Năm, 23 tháng 5, 2013
Thứ Hai, 20 tháng 5, 2013
Học ứng xử trong giao tiếp
Bạn muốn học cách ứng xử trong giao tiếp qua những tình huống thường gặp nhất trong cuộc sống? Bài viết này sẽ không làm bạn thất vọng nếu như bạn thực sự muốn cải thiện và nâng cao kỹ năng giao tiếp của mình:

1. Tình huống cần đối đáp theo kiểu “lạc mềm buộc chặt”:
Dân gian có câu:
“Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.
Đối với nhiều ý kiến phê
bình, phản đối của đối phương, không nên đáp lại bằng những lời nói hằn
học, nặng nề mà nhiều khi nên dùng lời nói nhẹ nhàng nhưng chứa đựng
những ý nghĩa sâu xa.
2. Tình huống cần phải “chuyển bại thành thắng”:
Trong cuộc sống đời thường
nhiều khi ta bị đẩy vào tình huống bất lợi, có nguy cơ thất bại, lúc đó
đòi hỏi chúng ta phải bình tĩnh, suy nghĩ ngay đến những hậu quả xấu
nhất có thể xảy ra (chuẩn bị tâm thế sẵn sàng chấp nhận). Tìm xem có
cách gì để hạn chế mức thấp nhất những thiệt hại (ví dụ: điều gì đã đẩy
ta vào tình thế bất lợi, có cách nào tạo được kế hoãn binh có vẻ ít liên
quan, nhưng nếu được “địch thủ” sẵn sàng chấp nhận thì chính điều có vẻ
không liên quan đó có thể thay đổi tình thế…).
3. Tình huống cần phải hài hước:
“Khi bạn nổi cáu ta hãy đùa lại một câu” (Laphôngten).
Hài hước là một nhân tố cực
kỳ quan trọng trong ngôn ngữ giao tiếp. Đó là cách an toàn nhất cho mọi
cuộc xung đột, là chìa khóa để mở “cánh cửa lòng”. Lời đối đáp khôn
ngoan, thông minh, dùng ngôn ngữ hài hước để phê phán thường mang lại
hiệu quả lớn hơn nhiều. Bởi thế khi kể một câu chuyện cười hoặc một lời
đối đáp có nội dung, cách nói hài hước thường làm cho không khí vui
nhộn, điều tiết được tình cảm, nhắc khéo người khác mà không làm họ bực
mình. Tất nhiên cũng không nên lạm dụng nó.
4. Tình huống cần phải đi thẳng vào vấn đề khi cần thiết:
Trong cuộc sống có trường
hợp không thể vòng vo, bóng gió, tế nhị mà phải bày tỏ quan điểm, thái
độ của mình một cách thẳng thắn, kiên quyết. Lúc đó phải diễn đạt vào
thẳng nội dung chính của vấn đề để biểu hiện ý chí và lòng tin ở bản
thân. Đối với những vấn đề then chốt không nên tỏ ra quá cân nhắc, đắn
đo làm cho người nghe cảm thấy thiếu tin tưởng, do dự.
5. Tình huống nên nói ẩn ý bằng truyện ngụ ngôn:
Trong giao tiếp khi cảm
thấy khó thuyết phục người khác bằng lý lẽ trực tiếp hoặc cảm thấy dễ bị
phản ứng, không tiện nói thẳng ra, thì người ta thường dùng phương pháp
ẩn ý bằng truyện ngụ ngôn. Tức là chọn những câu chuyện ngụ ngôn có nội
dung ẩn ý bên trong phù hợp với mục đích khuyên răn, thuyết phục của
mình để kể cho đối phương nghe.
Cái lợi của phương pháp này
là người nghe phải suy nghĩ mới hiểu hết cái ẩn ý bên trong đó. Bản
thân câu chuyện sẽ đưa ra những lời khuyên sâu sắc chứ không phải người
kể chuyện, do đó không có lý do để nổi khùng, tự ái hoặc mặc cảm. Tuy
nhiên để dùng phương pháp này có hiệu quả, người dùng phương pháp này
phải am hiểu câu chuyện phù hợp với trình độ người nghe, nếu người nghe
không hiểu gì cả, sẽ không có tác dụng.
6. Tình huống phản bác khéo những yêu cầu vô lý của người khác:
Cũng có lúc bạn gặp những
người khăng khăng đưa ra cho bạn những đòi hỏi vô lý không thể chấp nhận
được. Trước những tình huống đó nhiều khi ta không thể bác bỏ thẳng
thừng vì chạm lòng tự ái hoặc người không thỏa mãn với ta rồi tiếp tục
quấy rối nữa vá cách đó cũng chưa làm cho người tự nhận thấy được những
đòi hỏi của họ là vô lý.
Vậy ta sẽ xử lý thế nào
trong trường hợp đó? Tốt nhất là hãy thừa nhận đã, sau đó khéo léo chỉ
ra sự vô lý hoặc điều không thể thực hiện được. Cũng có thể cảnh tỉnh
người đó bằng việc chỉ ra những điều bất lợi, sự nguy hiểm nếu người đó
cứ giữ nguyên ý kiến, nhắm mắt hành động. Chú ý ngôn ngữ không nên gay
gắt nhưng tỏ ra cương quyết.
7. Tình huống cần phải thừa nhận trước rồi chuyển hướng sau:
Nếu khi bạn không đồng ý
với ý kiến của đối phương mà người đó lại là cấp trên, người lớn tuổi,
cha mẹ… thì bạn sẽ xử sự như thế nào? Việc thuyết phục để đối phương
nghe theo mình, có nghĩa là chấp nhận ý kiến của mình cũng đòi hỏi phải
có một nghệ thuật nhất định.
Bạn chớ phản đối và phê
phán các ý kiến của đối phương. Bạn hãy tiếp thu ý kiến của họ, biểu thị
thái độ đồng cảm ở mức độ nào đó để có thể làm giảm được sự cứng nhắc
của đối phương, khiến họ bằng lòng nghe ý kiến của bạn. Song phải nắm
vững nguyên tắc không được tỏ thái độ của mình ngang bằng với đối phương
để tiếp sau đó dùng lời mà chuyển hướng, thay đổi cách nhìn nhận của
đối phương, làm họ bằng lòng tiếp thu ý kiến của bạn.
8. Tình huống phải cần bạn đồng minh:
Khi tranh luận trước nhiều
người cần thể hiện quan điểm, bạn nên chú ý đầy đủ đến thái độ của những
người xung quanh, cần động viên được nhiều người nghe và ủng hộ quan
điểm của mình. Nếu người nghe ủng hộ ta, đồng tình với quan điểm của ta
đang trình bày, sẽ tạo thành một sức mạnh to lớn, một sức ép tinh thần
làm đối phương không phản kích lại được. Chẳng hạn khi đang xếp hàng có
người chen ngang, bạn lợi dụng thái độ của số đông mọi người xung quanh
để gạt người đó ra khỏi hàng là hợp lý nhất.
9. Tình huống không thể nhượng bộ khi mình có lý trong tranh luận:
Trong quan hệ giữa người
với người, tranh luận là một điều hết sức bình thường và không thể tránh
được. Không có tranh luận, điều phải trái không được phân định. Không
thể coi tranh luận là một thói xấu mà hạn chế nó.
Song tranh luận có thể dẫn
đến sự không thoải mái hoặc đôi khi xung đột. Tranh luận có phương pháp
sẽ đem lại kết quả tốt là điều chúng ta cần chú ý học hỏi.
Một là, khi tranh luận nên
có thái độ thật công bằng, đừng làm tổn thương đến lòng tự ái của người
kia. Sự phê phán, bình phẩm người khác không thể quá một giới hạn nhất
định, nếu không có thể làm tăng thêm mâu thuẫn vốn có.
Hai là, giọng nói phải mền
mỏng, thật lòng. Trong tranh luận phải tỏ ra tôn trọng nhau, làm sao cho
người cùng tranh luận tin rằng tranh luận thật là có ích. Trong tranh
luận nhiều khi người thắng không hẳn đã là nhiều lý lẽ biết hùng biện,
mà có thể là người có thái độ đúng mực và chân thực nhất.
Ba là, tranh luận phải có mục đích rõ ràng. Tranh luận nên xoay quanh những điều cần giải quyết.
10. Tình huống cần phải thuyết phục bằng hành động:
“Mọi lý thuyết đều màu xám
Còn cây đời mãi mãi xanh tươi”
(Gơt)
Trong giao tiếp, khi cảm
thấy khó thuyết phục người khác nghe ý kiến của mình bằng lời nói, bạn
có thể dùng hành động để thuyết phục. Thuyết phục bằng hành động thường
hiệu quả lớn nhất. Thông qua việc làm, hành động cụ thể, ta có thể làm
cho đối phương thay đổi cách nghĩ, tình cảm, thái độ, chấp nhận ý kiến
của ta.
Mười tình huống giao tiếp
trên đây rất dễ bắt gặp trong cuộc sống mỗi ngày. Bạn hãy thử áp dụng và
xem kết quả như thế nào nhé! Chúc bạn giao tiếp hiệu quả và thành công
Hanhtrinhdelta.edu.vn
Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2013
8 cách treo giữ quần áo hợp lý
1. Các không gian chuyên biệt
Không gian tủ quần áo sẽ được sử dụng hiệu quả hơn khi chia thành ngăn chuyên biệt một cách cụ thể tùy theo đồ đạc của mỗi chủ nhân. Những thứ "dài" nhất: váy dài, áo dài... được thiết kế riêng (trong phương án trên là ở phía tay phải). 4 ô dành cho các đồ ngắn hơn như sơ mi, áo jacket và váy.
Dưới các ô ngắn hơn đó là các ngăn kéo và kệ đựng đồ lót, hộp đồ lặt vặt, bốt cao cổ... Phía trên cùng là nơi để những chiếc hộp giữ quần áo trái mùa.
2. Sử dụng các thanh treo
Hãy sử dụng các thanh treo gắn trên một chíêc giá có trục xoay được, vừa với chiều sâu củatường bên để treo những chiếc quần tây. Vừa tiết kiệm không gian lại vừa dễ lấy chỉ bằng cách xoay một chiếc thanh.
3. Tủ hẹp dành cho giày
Những chiếc ngăn tủ hẹp là lựa chọn tối ưu cho các 'phụ kiện" như giày, mũ, ô, găng tay... Hãy dành cho chúng một chỗ riêng thay vì để chung với quần áo.
4. Luôn kiểm tra lại các đồ đạc trong tủ
Hãy để ý đến từng cm2 trong tủ của bạn. Xác định những gì bạn nên giữ và những thứ nên bỏ hoặc cất đi bằngcách trả lời những câu hỏi sau: Liệu nó còn phù hợp? Bạn có hay mặc nó? Nó có còn trong tình trạng tốt? Nếu bạn không có câu trả lời Yes nào trong số này,hãy xem xét để nó có thể rời xa ngăn tủ bạn!
5. Những chiếc kho "ẩn"
Đừng bỏ quên mặt sau của những cánh cửa tủ. Đó là nơi lý tưởng để treo cà vạt, thắt lưng, khăn, khẩu trang...
6. Những chiếc hộp theo mùa
Khi mùa đông qua, áo len, dạ không dùng đến, hãy thửa sẵn những chiếc hộp carton to để chất lên phần trên cùng của tủ quần áo. Cẩn thận ghi ra ngoài những thứ nhét trong hộp để đỡ mất công tìm nhé.
7. Sử dụng móc treo
Hãy sử dụng móc treo ở những chỗ còn trống, bạn sẽ cất được thêm rất nhiều thứ đấy.
8. Những chiếc tủ đơn
Vị trí chật hẹp chỉ có thể kê tủ đơn thì bạn cũng đừng vội nản. Hãy sử dụng triệt để những chiếc hộp, để cất T-shirt, quần jeans... Chỉ treo lên những đồ lụa và cotton. Tận dụng hết cánh cửa tủ như hình vẽ.
Không gian tủ quần áo sẽ được sử dụng hiệu quả hơn khi chia thành ngăn chuyên biệt một cách cụ thể tùy theo đồ đạc của mỗi chủ nhân. Những thứ "dài" nhất: váy dài, áo dài... được thiết kế riêng (trong phương án trên là ở phía tay phải). 4 ô dành cho các đồ ngắn hơn như sơ mi, áo jacket và váy.
Dưới các ô ngắn hơn đó là các ngăn kéo và kệ đựng đồ lót, hộp đồ lặt vặt, bốt cao cổ... Phía trên cùng là nơi để những chiếc hộp giữ quần áo trái mùa.
2. Sử dụng các thanh treo
Hãy sử dụng các thanh treo gắn trên một chíêc giá có trục xoay được, vừa với chiều sâu củatường bên để treo những chiếc quần tây. Vừa tiết kiệm không gian lại vừa dễ lấy chỉ bằng cách xoay một chiếc thanh.
3. Tủ hẹp dành cho giày
Những chiếc ngăn tủ hẹp là lựa chọn tối ưu cho các 'phụ kiện" như giày, mũ, ô, găng tay... Hãy dành cho chúng một chỗ riêng thay vì để chung với quần áo.
4. Luôn kiểm tra lại các đồ đạc trong tủ
Hãy để ý đến từng cm2 trong tủ của bạn. Xác định những gì bạn nên giữ và những thứ nên bỏ hoặc cất đi bằngcách trả lời những câu hỏi sau: Liệu nó còn phù hợp? Bạn có hay mặc nó? Nó có còn trong tình trạng tốt? Nếu bạn không có câu trả lời Yes nào trong số này,hãy xem xét để nó có thể rời xa ngăn tủ bạn!
5. Những chiếc kho "ẩn"
Đừng bỏ quên mặt sau của những cánh cửa tủ. Đó là nơi lý tưởng để treo cà vạt, thắt lưng, khăn, khẩu trang...
6. Những chiếc hộp theo mùa
Khi mùa đông qua, áo len, dạ không dùng đến, hãy thửa sẵn những chiếc hộp carton to để chất lên phần trên cùng của tủ quần áo. Cẩn thận ghi ra ngoài những thứ nhét trong hộp để đỡ mất công tìm nhé.
7. Sử dụng móc treo
Hãy sử dụng móc treo ở những chỗ còn trống, bạn sẽ cất được thêm rất nhiều thứ đấy.
8. Những chiếc tủ đơn
Vị trí chật hẹp chỉ có thể kê tủ đơn thì bạn cũng đừng vội nản. Hãy sử dụng triệt để những chiếc hộp, để cất T-shirt, quần jeans... Chỉ treo lên những đồ lụa và cotton. Tận dụng hết cánh cửa tủ như hình vẽ.
Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2013
TỪ LÝ THUYẾT HOẠT ĐỘNG LỜI NÓI NHÌN VỀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG
Lý thuyết hoạt động lời nói chính là sự ứng dụng các nguyên lý của lý thuyết hoạt động trong tâm lý học vào lĩnh vực lời nói.
Lý
thuyết hoạt động lời nói chỉ ra rằng mỗi hoạt động nói năng được đặc
trưng bằng một động cơ và mục đích nhất định. Hoạt động nói năng có ba
mặt: động cơ, mục đích, sự thực hiện. Nó được sản sinh ra từ một nhu
cầu. Chúng ta thường đặt ra các kế hoạch hoạt động và hướng tới một mục
đích cuối cùng đồng thời chúng ta cũng thường dự định các phương tiện
thực hiện kế hoạch ấy. Thông qua hoạt động nói năng chúng ta thực hiện
mục đích đã đặt ra ban đầu. mỗi một hoạt động gồm hệ thống những thao
tác có định hướng. Điều kiện hoạt động sẽ tác động và quy định thao tác.
Như vậy hành động là một quá trình có ý thức, hướng tới một mục tiêu cụ
thể của con người. Hoạt động của con người bao giờ cũng tương ứng với
một động cơ nhất định. Động cơ thôi thúc chúng ta thực hiện các thao
tác, tiến hành hành động để hướng tới mục đích của mình.. Trên thực tế
thì không phải mỗi hoạt động chỉ tương ứng với một động cơ mà nó có thể
đáp ứng hai hay nhiều động cơ khác nhau. Leont’ev đã khẳng định rằng:
đối với một cá nhân cụ thể thực hiện hoạt động nào đó, tất cả các động
cơ tạo thành một tôn ti, đứng đầu là động cơ tạo ý (Ông cũng nêu ra ba
loại động cơ khác nhau: động cơ kích thích, động cơ tạo ý và động cơ mục
đích). Leont’ev đưa ra cấu trúc bốn giai đoạn cho mô hình sản sinh lời
nói:
a. Giai đoạn động cơ phát ngôn
b. Giai đoạn ý đồ (chương trình kế hoạch)
c. Giai đoạn thực hiện ý đồ
d. Giai đoạn đối chiếu việc thực hiện ý đồ với bản thân ý đồ.
Chúng
ta có thể hình dung quá trình sản sinh lời nói theo một trật tự có tính
hệ thống bắt đầu từ động cơ cho tới tư tưởng, ý đồ cho đến sự thực hiện
ý đồ bằng các hoạt động cụ thể. Đây là một cấu trúc có tính nguyên lý
sâu sắc. Quá trình sản sinh lời nói vì thế cũng trở nên cụ thể, rõ ràng.
Ứng
dụng mô hình hoạt động lời nói vào quá trình sáng tạo tác phẩm văn
chương, chúng ta thấy rằng quá trình sáng tạo này cũng trải qua các giai
đoạn như vậy. “Trước hết là giai đoạn hình thành động cơ sáng tạo. Do
một sự thôi thúc nào đó, nhà văn, nhà thơ cảm thấy có nhu cầu phải cầm
bút. Đó chính là cái thường được gọi là cảm hứng. Giai đoạn tiếp theo là
hình thành ý đồ sáng tác, thiết kế đề cương hay sơ đồ của tác phẩm. Sau
đó là giai đoạn thực hiện ý đồ, tức giai đoạn viết. Giai đoạn cuối cùng
đối chiếu việc thực hiện ý đồ sáng tác với bản thân ý đồ ấy đã được
vạch ra ban đầu thông qua công việc sửa chữa và hoàn tất bản thảo”.
Lý
luận văn học cũng khẳng định cảm hứng là khâu đầu tiên và bao trùm trong
sáng tác của nhà văn. “Cảm hứng là một trạng thái tâm lý căng thẳng
nhưng say mê khác thường. Sự căng thẳng của ý chí và trí tuệ, sự dồi dào
về cảm xúc khi đã đạt đến sự hài hòa, kết tinh sẽ bùng cháy trong tư
duy nghệ thuật của nhà văn, dẫn dắt họ đến những mục tiêu da diết bằng
con đường gần như trực giác, bản năng”. Đúng như Nguyễn Quýnh đã nói:
“Người làm thơ không thể không có hứng, cũng như tạo hóa không thể không
có gió vậy”. Cảm hứng với sáng tác nghệ thuật có vai trò tạo nên cái
hồn xuyên suốt trong tác phẩm. Đặc biệt đối với tác phẩm thơ trữ tình.
Cảm hứng trong thơ bao giờ cũng mãnh liệt bởi lẽ “thơ chỉ tràn ra khi
trong tim ta cảm xúc đã thật đầy” (Ngô Thì Nhậm).
Các khâu của quá trình sáng tác cũng được chỉ rõ qua năm giai đoạn. Trước hết là hình thành ý đồ.
Ý đồ sáng tác thường rất phong phú, đa dạng, nó không đứng yên tĩnh tại
mà cũng có sự vận động, phát triển riêng. Đây là giai đoạn đầu tiên
trong quá trình sáng tác. Nó như một động cơ cụ thể có vai trò xác định
phương hướng chung cho một quá trình sáng tác cụ thể . Giai đoạn này là
nền tảng cho các giai đoạn tiếp theo, bởi vì chỉ khi có ý đồ thì nhà văn
mới có thể triển khai quá trình sáng tác của mình. Thứ hai là giai đoạn
thu thập tư liệu. Ý đồ hình thành trên cơ sở đã có ít hay nhiều
tư liệu nhưng khi ý đồ ấy trở nên rõ ràng thì thu nhận tư liệu có ý
nghĩa rất quan trọng. Nó giống như vốn liếng để người ta làm giàu vậy.
Tác phẩm tự sự rất cần đến khâu này. Chẳng thế mà khi viết tiểu thuyết Vỡ bờ,
Nguyễn Đình Thi không chỉ đọc rất nhiều các tác phẩm của Bác Hồ, nghiên
cứu kĩ càng lịch sử Đảng và còn không quên mang theo cuốn sổ nhỏ bên
mình để ghi chép lại cuộc sống chiến đấu của nhân dân ta ở bất kì đâu mà
tác giả được chứng kiến. Tiếp theo là giai đoạn lập sơ đồ sáng tác.
Đây là bước hệ thống hóa lại toàn bộ tư liệu mà tác giả thu thập được
thành một hệ thống. Đồng thời cụ thể hóa ý đồ sáng tác ban đầu, đảm bảo
cho ý đồ được quán xuyến thành một hệ thống mà không rời rạc. Điều đó lý
giải vì sao khi sáng tác tác phẩm Thằng ngốc, Đoxtoiepxki đã nghĩ đến sáu sơ đồ. Sau đó là giai đoạn nhà văn bắt tay vào viết.
Trong quá trình viết có thể sơ đồ ban đầu sẽ được điều chỉnh, tuy nhiên
đây vẫn là giai đoạn khó khăn nhất. Người viết không những phải nghiền
ngẫm mà phải chọn lựa ngôn từ sao cho đúng, phù hợp thể hiện hay nhất ý
đồ của mình. Không ít nhà văn, nhà thơ đã từng chữa đi chữa lại bản thảo
như Nguyễn Đình Thi, có tác giả bản thảo rất sạch, ít tẩy xóa, sửa chữa
như Nam Cao, có người một ngày lại có thể viết đến hàng trăm câu thơ
như Puskin,…Quá trình viết diễn ra không giống nhau ở các nhà văn nhưng
đây chính là lúc tác giả sống bằng tất cả tài năng, tâm huyết với đứa
con tinh thần của mình. Cuối cùng là giai đoạn sửa chữa bản thảo.
Giai đoạn này không đồng nhất với việc tác giả sửa chữa các trang viết
của mình khi chưa hoàn tất mà chúng ta chỉ nói đến sự sửa chữa sau khi
tác phẩm đã được nhà văn viết xong nhưng chưa công bố với công chúng. Đó
là lúc tác giả nhìn ngắm lại sản phẩm của mình, “hoàn thiện nó để đạt
đến tính tư tưởng và nghệ thuật theo ý đồ và mong muốn mới nhất và cao
nhất lúc đó”.
Tất nhiên các
giai đoạn trong khâu sáng tác không phải tách biệt một cách hoàn toàn
độc lập. Trong quá trình sáng tác chúng có thể xen kẽ nhau, thậm chí
thêm bớt tùy theo các thể loại văn học và nhất là tùy từng tác giả khác
nhau. Song đó là năm bước cơ bản của quá trình sáng tạo tác phẩm văn
chương. Nghệ thuật nằm ở trái tim, nó đi từ những rung động trong tâm
hồn nhà văn đến thẳng trái tim độc giả. Việc nhìn nhận quá trình sáng
tác từ góc độ lý thuyết hoạt động lời nói cho phép chúng ta hiểu sâu sắc
hơn, toàn diện hơn về sự ra đời của tác phẩm văn học.
Đó
cũng là một con đường để chúng ta thâm nhập sâu hơn vào tác phẩm văn
chương. Bởi vì tác phẩm văn chương không tồn tại một cách độc lập, không
chỉ dựa vào sự định giá của bạn đọc mà chúng ta cần phải tìm hiểu về cả
tác giả, đặc biệt là quá trình sáng tác để nắm bắt tư tưởng nghệ thuật
đúng với ý đồ mà nhà văn đã gửi gắm. Nói như Vưgotxki thì “Nghệ thuật là
kỹ thuật xã hội của tình cảm…cùng với Geneken, chúng tôi nhìn vào tác
phẩm nghệ thuật như nhìn vào “một tổng hòa các ký hiệu thẩm mỹ nhằm thức
tỉnh các cảm xúc ở con người” và trên cơ sở phân tích các ký hiệu này
chúng tôi cố gắng tạo dựng lại những cảm xúc tương ứng với chúng. Để tìm
hiểu đúng ý nghĩa của tác phẩm văn chương chúng ta phải đặt văn bản văn
học trong một mối quan hệ hệ thống. Trong đó, quá trình sản sinh tác
phẩm cũng cần phải được quan tâm một cách thỏa đáng. Từ việc những cảm
xúc mà tác phẩm đã đánh thức trong ta, chúng ta có thể hiểu được tiếng
lòng của tác giả. Đó cũng chính là sự kì diệu trong kết nối sợi dây tâm
hồn của văn chương nghệ thuật.
TƯ LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Đức Tồn, Tiếng Việt trong nhà trường, NXBKHXH,1997.
2. Phương Lựu chủ biên, Lý luận văn học, NXB Giáo dục, 2006
3. Hữu Châu, Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học, Tạp chí ngôn ngữ, số 2, 1990.
4. L.X.Vugotxki, Tâm lý học nghệ thuật, NXB Khoa học xã hội, Trường viết văn Nguyễn Du, 1995.
5. Khrapchenko, Cá tính sáng tạo của nhà văn sự phát triển của văn học, NXB Tác phẩm mới, 1978.
6. Phương Lựu, Phương pháp luận nghiên cứu văn học, NXB Đại học Sư phạm, 2005.
mẹo để học từ vựng trong tiếng Anh
Đối với những người bắt đầu học ngoại ngữ,
từ vựng là một vấn đề rất “khó xơi”. Nhiều bạn thắc mắc rằng tại sao họ
không thể nào nhớ được các từ vừa học mặc dù đã viết đi viết lại nhiều
lần. Dưới đây là 10 mẹo nhỏ giúp bạn học từ vựng tốt hơn:
1. Hãy học những từ có liên quan đến nhau. Nếu đang học từ miêu tả miền quê, thí dụ như valley (thung lũng), stream (dòng suối), meadow (đồng cỏ) thì đừng lẫn với các từ miêu tả các thứ ở thành phố (ví dụ như fire hydrant – vòi nước chữa cháy), hoặc những từ miêu tả tính cách. Những từ liên quan với nhau thường cùng xuất hiện và sẽ dễ hơn khi nhớ chúng chung với nhau.
2. Học từ vựng trong những lĩnh vực mà bạn yêu thích. Nếu quan tâm về nghệ thuật hoặc bóng đá, hãy đọc về những đề tài này. Có lẽ trong tiếng mẹ đẻ bạn biết rất nhiều từ miêu tả một bức tranh, một trận đá bóng nhưng bạn lại không biết trong tiếng Anh chúng gọi là gì – hãy tìm thử xem! Hãy nhớ rằng những gì bạn thích là những điều bạn muốn nói về và là một phần của con người bạn - nếu không biết cách diễn đạt chúng, việc này có thể làm bạn lo lắng đấy.
3. Hãy có một cuốn từ điển hình ảnh. Nó sẽ giúp bạn nhớ từ mới dễ dàng hơn thông qua việc nhìn tranh của chúng.
4. Sử dụng video. Lần tới khi xem một bộ phim bạn hãy ghi lại bằng tiếng mẹ đẻ 5 hoặc 10 đồ vật bạn nhìn thấy nhưng lại không biết từ tiếng Anh của chúng là gì. Tra những từ này trong từ điển, rồi xem lại bộ phim, luyện tập cách sử dụng chúng. Một lần nữa chúng ta lại thấy rằng nhớ một cái gì đó thật dễ dàng nếu ta nhìn thấy hình ảnh của nó.
5. Thu một cuốn băng từ vựng. Trong khi bạn đi bộ, lái xe đi làm hay đợi xe bus bạn hãy nghe cuốn băng đó. Đầu tiên nói từ đó bằng ngôn ngữ mẹ đẻ, dừng lại sau đó nói từ đó bằng tiếng Anh. Khoảng dừng này sẽ cho bạn thời gian để trả lời trước khi xem câu trả lời chính xác.
6. Mua một cuốn từ điển các từ xếp theo nghĩa. Đó là tập hợp các từ đồng nghĩa và trái nghĩa. Cố gắng sử dụng nhiều từ khác nhau. Dĩ nhiên đôi lúc bạn sẽ dùng một từ không phù hợp, nhưng điều này không ngăn trở bạn sử dụng cuốn sách hữu ích này cho việc xây dựng một vốn từ vựng phong phú.
7. Luyện tập từ mới khi viết luận. Nếu bạn có bài tập viết về nhà hãy lấy ra các từ mới mà mình đã học sau đó cố gắng sử dụng chúng vào bài viết của mình. Nếu không sử dụng các từ mới học lúc nói hoặc viết bạn sẽ nhanh chóng quên chúng đấy.
8. Luyện tập từ mới khi làm bài tập ngữ pháp. Đừng lãng phí những cơ hội quý báu sử dụng vốn từ bạn vừa học.
9. Luyện tập từ mới khi nói. Liệt kê khoảng 5 từ mới mà bạn định sử dụng trong lớp. Cố gắng dùng chúng trong các cuộc thảo luận. Tin tôi đi, bạn sẽ tìm ra cách để lái câu chuyện theo cách mà bạn có thể sử dụng ít nhất một vài trong số những từ này.
10. Hãy đọc nhiều. Đọc nhiều không những có thể cải thiện kĩ năng đọc mà bạn còn có thể xây cho mình một vốn từ vựng phong phú. Trong bài đọc thường có nhiều từ liên quan đến nhau và bạn có thể dùng những từ đã học để đoán nghĩa của những từ mới.
Nếu biết cách “chế biến” thì bạn sẽ có một “món” từ vựng ngon lành và bổ dưỡng đó.
Cách học từ vựng:
1. Phải đặt mục tiêu đạt được số lượng từ vựng trong thời gian bao lâu? Mỗi ngày học bao nhiêu từ. Bạn đồng ý không? Để nói tiếng Anh tốt bạn cần khoảng 20.000 - 30.000 từ trở lên, mỗi ngày bạn học 20 từ, một tuần bạn học 5 ngày, 20*5ngày*50tuần = 5.000 từ, vậy phải học từ ít nhất 4 năm, nếu giỏi, học gấp đôi, rút xuống còn 2 năm. Và như thế, ai học dưới 2 năm mà nói giỏi tiếng Anh là nói "xạo".
2. Khi gặp một từ mới, nếu không biết đọc, không "đọc đại", phải tra từ điển, nếu có talking dictionary càng tốt. Cho từ điển đọc rồi đọc theo, người ta nói nếu một từ bạn đọc 500 lần thì sẽ nhớ như tiếng mẹ đẻ!
3. Khi học từ thì cũng phải viết, khoảng 20 chữ cho lần đầu, đánh một dấu vào chổ từ đó trong từ điển, nếu mỗi lần sau đó thì tăng số lượng gấp đôi, đánh tiếp một dấu vào từ điển, và khí "đạt kiện tướng" (5 sao trong từ điển) thì lập cho từ đó một flash card (dùng tờ giấy loại namecard) mang theo khi rảnh xem qua.
4. Khi học một từ phải học tất cả các từ loại liên quan đến nó, và nên sử dụng tự điển sách không dùng tự điển trong máy vi tính, đặc biệt là kim từ điển là điều cấm kỵ. Mình chỉ xài tự điển của mình, khi có bất cứ thứ gì liên quan đến từ đó mà từ điển của mình không có thì phải "note" vào ngay.
5. Đọc ví dụ của từ đó càng nhiều càng tốt, càng lưu loát càng tốt, nhất là tự điển Anh-Anh. Thường họ ví dụ từ đó trong một câu, một clause, một phrase, và ví dụ có thể trích từ những báo nổi tiếng,..
1. Hãy học những từ có liên quan đến nhau. Nếu đang học từ miêu tả miền quê, thí dụ như valley (thung lũng), stream (dòng suối), meadow (đồng cỏ) thì đừng lẫn với các từ miêu tả các thứ ở thành phố (ví dụ như fire hydrant – vòi nước chữa cháy), hoặc những từ miêu tả tính cách. Những từ liên quan với nhau thường cùng xuất hiện và sẽ dễ hơn khi nhớ chúng chung với nhau.
2. Học từ vựng trong những lĩnh vực mà bạn yêu thích. Nếu quan tâm về nghệ thuật hoặc bóng đá, hãy đọc về những đề tài này. Có lẽ trong tiếng mẹ đẻ bạn biết rất nhiều từ miêu tả một bức tranh, một trận đá bóng nhưng bạn lại không biết trong tiếng Anh chúng gọi là gì – hãy tìm thử xem! Hãy nhớ rằng những gì bạn thích là những điều bạn muốn nói về và là một phần của con người bạn - nếu không biết cách diễn đạt chúng, việc này có thể làm bạn lo lắng đấy.
3. Hãy có một cuốn từ điển hình ảnh. Nó sẽ giúp bạn nhớ từ mới dễ dàng hơn thông qua việc nhìn tranh của chúng.
4. Sử dụng video. Lần tới khi xem một bộ phim bạn hãy ghi lại bằng tiếng mẹ đẻ 5 hoặc 10 đồ vật bạn nhìn thấy nhưng lại không biết từ tiếng Anh của chúng là gì. Tra những từ này trong từ điển, rồi xem lại bộ phim, luyện tập cách sử dụng chúng. Một lần nữa chúng ta lại thấy rằng nhớ một cái gì đó thật dễ dàng nếu ta nhìn thấy hình ảnh của nó.
5. Thu một cuốn băng từ vựng. Trong khi bạn đi bộ, lái xe đi làm hay đợi xe bus bạn hãy nghe cuốn băng đó. Đầu tiên nói từ đó bằng ngôn ngữ mẹ đẻ, dừng lại sau đó nói từ đó bằng tiếng Anh. Khoảng dừng này sẽ cho bạn thời gian để trả lời trước khi xem câu trả lời chính xác.
6. Mua một cuốn từ điển các từ xếp theo nghĩa. Đó là tập hợp các từ đồng nghĩa và trái nghĩa. Cố gắng sử dụng nhiều từ khác nhau. Dĩ nhiên đôi lúc bạn sẽ dùng một từ không phù hợp, nhưng điều này không ngăn trở bạn sử dụng cuốn sách hữu ích này cho việc xây dựng một vốn từ vựng phong phú.
7. Luyện tập từ mới khi viết luận. Nếu bạn có bài tập viết về nhà hãy lấy ra các từ mới mà mình đã học sau đó cố gắng sử dụng chúng vào bài viết của mình. Nếu không sử dụng các từ mới học lúc nói hoặc viết bạn sẽ nhanh chóng quên chúng đấy.
8. Luyện tập từ mới khi làm bài tập ngữ pháp. Đừng lãng phí những cơ hội quý báu sử dụng vốn từ bạn vừa học.
9. Luyện tập từ mới khi nói. Liệt kê khoảng 5 từ mới mà bạn định sử dụng trong lớp. Cố gắng dùng chúng trong các cuộc thảo luận. Tin tôi đi, bạn sẽ tìm ra cách để lái câu chuyện theo cách mà bạn có thể sử dụng ít nhất một vài trong số những từ này.
10. Hãy đọc nhiều. Đọc nhiều không những có thể cải thiện kĩ năng đọc mà bạn còn có thể xây cho mình một vốn từ vựng phong phú. Trong bài đọc thường có nhiều từ liên quan đến nhau và bạn có thể dùng những từ đã học để đoán nghĩa của những từ mới.
Nếu biết cách “chế biến” thì bạn sẽ có một “món” từ vựng ngon lành và bổ dưỡng đó.
Cách học từ vựng:
1. Phải đặt mục tiêu đạt được số lượng từ vựng trong thời gian bao lâu? Mỗi ngày học bao nhiêu từ. Bạn đồng ý không? Để nói tiếng Anh tốt bạn cần khoảng 20.000 - 30.000 từ trở lên, mỗi ngày bạn học 20 từ, một tuần bạn học 5 ngày, 20*5ngày*50tuần = 5.000 từ, vậy phải học từ ít nhất 4 năm, nếu giỏi, học gấp đôi, rút xuống còn 2 năm. Và như thế, ai học dưới 2 năm mà nói giỏi tiếng Anh là nói "xạo".
2. Khi gặp một từ mới, nếu không biết đọc, không "đọc đại", phải tra từ điển, nếu có talking dictionary càng tốt. Cho từ điển đọc rồi đọc theo, người ta nói nếu một từ bạn đọc 500 lần thì sẽ nhớ như tiếng mẹ đẻ!
3. Khi học từ thì cũng phải viết, khoảng 20 chữ cho lần đầu, đánh một dấu vào chổ từ đó trong từ điển, nếu mỗi lần sau đó thì tăng số lượng gấp đôi, đánh tiếp một dấu vào từ điển, và khí "đạt kiện tướng" (5 sao trong từ điển) thì lập cho từ đó một flash card (dùng tờ giấy loại namecard) mang theo khi rảnh xem qua.
4. Khi học một từ phải học tất cả các từ loại liên quan đến nó, và nên sử dụng tự điển sách không dùng tự điển trong máy vi tính, đặc biệt là kim từ điển là điều cấm kỵ. Mình chỉ xài tự điển của mình, khi có bất cứ thứ gì liên quan đến từ đó mà từ điển của mình không có thì phải "note" vào ngay.
5. Đọc ví dụ của từ đó càng nhiều càng tốt, càng lưu loát càng tốt, nhất là tự điển Anh-Anh. Thường họ ví dụ từ đó trong một câu, một clause, một phrase, và ví dụ có thể trích từ những báo nổi tiếng,..
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)