Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

Rút vốn khỏi công ty TNHH 2 thành viên

Ngày nay, vấn đề hùn hạp trong kinh doanh diễn ra khá phổ biến. Tuy nhiên, việc kinh doanh của công ty không phải lúc nào cũng suôn sẻ và trọn vẹn, vì vậy vấn đề rút vốn ra khỏi công ty cũng không phải hiếm gặp. 

rut von khoi cong ty
Có 2 phương pháp để thành viên công ty TNHH 2 TV có thể rút được vốn: là Đàm phán và Tài phán.
Thứ nhất, về phương pháp Đàm phán
Căn cứ Khoản 1 Điều 42 Luật Doanh nghiệp 2005 (LDN) quy định về Nghĩa vụ của thành viên công ty TNHH 2 TV trở lên thì: “…không được rút vốn đã góp ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp quy định tại các điều 43, 44, 45 và 60 của Luật này”.  Như vậy, về nguyên tắc thì thành viên không được rút vốn, mà chỉ được rút vốn trong các trường hợp: (1) Công ty mua lại phần vốn; (2) Chuyển nhượng phần vốn góp; (3) Rút vốn bằng cách mang vốn góp đi trả nợ; (4) Rút vốn bằng cách tặng cho; (5) Công ty giảm vốn điều lệ.
Với những cách rút vốn khác nhau, LDN cũng quy định khác nhau, cụ thể:
(1) Công ty mua lại phần vốn (căn cứ Điều 43 LDN):
Trường hợp rút vốn bằng cách yêu cầu công ty mua lại phần vốn chỉ được thực hiện nếu thành viên bỏ phiếu không tán thành đối với quyết định của Hội đồng thành viên về các vấn đề sau đây:
a) Sửa đổi, bổ sung các nội dung trong Điều lệ công ty liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên;
b) Tổ chức lại công ty;
c) Các trường hợp khác quy định tại Điều lệ công ty.
Yêu cầu mua lại phần vốn góp của thành viên phải thể hiện bằng văn bản và được gửi đến công ty trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày thông qua quyết định vấn đề quy định tại các điểm a, b và c nói trên.
 Khi có yêu cầu của thành viên, nếu không thoả thuận được về giá thì công ty phải mua lại phần vốn góp của thành viên theo giá thị trường hoặc giá được định theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Việc thanh toán chỉ được thực hiện nếu sau khi thanh toán đủ phần vốn góp được mua lại, công ty vẫn thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.
Nếu công ty không mua lại phần vốn góp thì thành viên có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho thành viên khác hoặc người khác không phải là thành viên.
(2) Chuyển nhượng phần vốn góp (căn cứ Điều 44 LDN):
Nếu rút vốn bằng cách chuyển nhượng phần vốn cho người khác thì thành viên phải:
a) Chào bán phần vốn đó cho thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của thành viên đó trong công ty với cùng điều kiện;
b) Nếu thành viên đó không mua hoặc không mua hết trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày chào bán thì được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên.
(3) Rút vốn bằng cách mang vốn góp đi trả nợ (căn cứ khoản 6 Điều 45 LDN):
Nếu thành viên sử dụng phần vốn góp để trả nợ (đối với vay thật) thì người nhận thanh toán có quyền sử dụng phần vốn góp đó theo một trong hai cách sau đây:a) Trở thành thành viên của công ty nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận;b) Nếu Hội đồng thành viên không chấp thuận cho chủ nợ thành thành viên thì chủ nợ phải chào bán và chuyển nhượng phần vốn góp đó tương tự như trường hợp rút vốn bằng cách chuyển nhượng cho người khác ở trên.
(4) Rút vốn bằng cách tặng cho (căn cứ khoản 5 Điều 45 LDN):
Thành viên có quyền tặng cho một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác. Trường hợp người được tặng cho là người có cùng huyết thống đến thế hệ thứ ba thì họ đương nhiên là thành viên của công ty. Trường hợp người được tặng cho là người khác thì họ chỉ trở thành thành viên của công ty khi được Hội đồng thành viên chấp thuận.
(5) Công ty giảm vốn điều lệ (căn cứ Điều 60 LDN):
Theo quyết định của Hội đồng thành viên, công ty có thể giảm vốn điều lệ bằng các hình thức sau đây:a) Hoàn trả một phần vốn góp cho thành viên theo tỷ lệ vốn góp của họ trong vốn điều lệ của công ty nếu đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn hai năm, kể từ ngày đăng ký kinh doanh; đồng thời vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả cho thành viên;b) Mua lại phần vốn góp theo quy định tại Điều 44 LDN;c) Điều chỉnh giảm mức vốn điều lệ tương ứng với giá trị tài sản giảm xuống của công ty.
Thứ hai, về phương pháp Tài phán.
Về nguyên tắc, thành viên công ty không thể dựa vào kết quả kinh doanh thua lỗ mà yêu cầu rút vốn, bởi đầu tư là chuyện rủi ro, lời ăn lỗ chịu. Các căn cứ để yêu cầu rút vốn chỉ có thể dựa trên các hoạt động mang tính chất tư lợi và thiếu minh bạch của Giám đốc (thể hiện qua sổ sách tài chính) gây phương hại đến quyền lợi và lợi ích của thành viên công ty.
Nếu thái độ của người đại diện theo pháp luật của công ty bất hợp tác, và họ cố ý duy trì thái độ này, thì thành viên phải dùng đến phương án khởi kiện ra Tòa kinh tế Tòa án nhân dân cấp tỉnh để mong rút được vốn (căn cứ điểm g khoản 1 Điều 41 LDN). Tuy nhiên đây là phương án tốn nhiều công sức, thời gian và án phí. Phương án này sẽ khởi kiện người đại diện theo pháp luật của công ty về việc không thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến việc tổ chức cuộc họp hội đồng thành viên, thực hiện báo cáo tài chính hằng năm, không minh bạch trong việc sử dụng vốn của doanh nghiệp, từ đây sẽ tiến hành kiểm tra toàn diện các khoản thu chi, báo cáo tài chính trong các năm hoạt động.

Vốn của chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu là các nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong các công ty cổ phần.

Có 3 nguồn tạo nên vốn chủ sở hữu: số tiền góp vốn của các nhà đầu tư, tổng số tiền tạo ra từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (lợi nhuận chưa phân phối) và chênh lệch đánh giá lại tài sản.

Vốn chủ sở hữu bao gồm: vốn kinh doanh (vốn góp và lợi nhuận chưa chia), chênh lệch đánh giá lại tài sản, các quỹ của doanh nghiệp như: quỹ phát triển, quỹ dự trữ, quỹ khen thưởng phúc lợi... Ngoài ra vốn chủ sở hữu còn gồm vốn đầu tư xây dựng cơ bản và kinh phí sự nghiệp (kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp phát không hoàn lại...)

Vốn chủ sở hữu có thể được hiểu theo các cách sau:

1. Là cổ phần hoặc bất cứ loại chứng khoán nào khác đại diện cho tỷ lệ sở hữu của cổ đông.

2. Trên bảng cân đối Kế toán, Vốn chủ sở hữu là lượng tiền được cổ đông đóng góp cộng với các khoản thu được (hoặc trừ đi khoản bị mất).

3. Trong nghiệp vụ mua bán Chứng khoán, là giá trị của chứng khoán trong tài khoản trừ đi khoản vay từ công ty môi giới.

4. Trong Bất động sản, vốn chủ sở hữu là sự chênh lệch giữa giá trị hiện tại trên thị trường của tài sản và phần nợ chủ sở hữu loại tàn sản ấy phải trả cho chủ nợ do đã đem tài sản đó đi thế chấp. Vì vậy vốn chủ sở hữu sẽ là phần chủ sở hữu nhận được sau khi bán đi tài sản đó và trả hết phần nợ thế chấp.

Lưu ý: Cổ phần là vốn sở hữu bởi vì nó đại diện cho tỷ lệ sở hữu của cá nhân trong công ty, nhưng Trái phiếu thì lại được coi là nợ bởi vì nó đại diện cho nghĩa vụ trả nợ của công ty (vì công ty phát hành trái phiếu để huy động vốn cũng chính là nợ chủ sở hữu trái phiếu một khoản tiền hay tài sản nhất định).
Vai trò :
 vai trò bảo vệ :
vai trò hoạt động : vốn tới đâu thì tính tự chủ tới đó
vai trò điều chỉnh : vốn tới đâu , hành vi được điều chỉnh tới đó ( mạnh vì gạo , bạo vì tiền )

Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2013

Quản lý khách hàng chiến lược : Những rủi ro cần tránh

 Quản lý khách hàng chiến lược (Strategic Account Management – SAM) được xem như một chiến lược công ty để đáp ứng yêu cầu đặc biệt của một nhóm khách hàng lớn mà ảnh hưởng nhiều đến doanh thu và lợi nhuận công ty. Nhóm khách hàng lớn này thường có những yêu cầu đặc biệt, có một quy trình mua hàng phức tạp và thường mua với số lượng rất lớn. Chiến lược này dựa trên ý tưởng rằng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ phụ thuộc vào một số khách hàng lớn. Hay nói một cách khác, khách hàng chiến lược là những khách hàng phù hợp với quy tắc 20/80 của doanh nghiệp – 80% lợi nhuận hoặc doanh thu của doanh nghiệp sẽ do khoảng 20% lượng khách hàng đem lại.
 Theo đó công ty sẽ ưu tiên những nguồn lực để phát triển mối quan hệ chiến lược với các khách hàng này. Thông thường các doanh nghiệp sẽ thành lập một nhóm quản lý riêng biệt chỉ để phục vụ cho một khách hàng. Khách hàng càng lớn thì số lượng nhà quản lý của doanh nghiệp dành riêng chỉ để quản lý khách hàng càng nhiều.
Những rủi ro trong quản lý khách hàng chiến lược
Mặc dù quản lý khách hàng chiến lược luôn được các doanh nghiệp chọn trong phát triển mối quan hệ với khách hàng do có thể giúp doanh nghiệp vừa đạt được một mức doanh thu/ lợi nhuận mong đợi vừa nâng cao dược dịch vụ khách hàng, nhưng chiến lược này cũng mang một số rủi ro:
Đầu tư nhiều vào khách hàng chiến lược, trong khi không đánh giá được “năng lực thị trường” của khách hàng. Các doanh nghiệp mà hoạt động dựa trên nguyên tắc 20/80 sẽ đưa đến việc phụ thuộc quá nhiều vào khách hàng chiến lược. Và rủi ro sẽ xảy ra khi doanh nghiệp không thể đánh giá đúng “năng lực thị trường” của khách hàng. Kết quả cuối cùng là các doanh nghiệp phải bắt đầu hạ giá, sản phẩm được thiết kế riêng cho khách hàng và dần dần lợi nhuận sẽ giảm khi khách hàng sử dụng “năng lực thị trường” để tạo lợi thế cho mình. Các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất hàng gia dụng cho IKEA đã phải đối mặt với rủi ro này. Các doanh nghiệp này đã quá phụ thuộc vào các đơn hàng mà IKEA mang tới. Bằng “năng lực thị trường” của mình (năng lực về phân phối sản phẩm, năng lực đàm phán…), IKEA yêu cầu các doanh nghiệp này giảm giá qua từng năm. Và kết quả là có những doanh nghiệp phải cắt hơp đồng với IKEA, doanh thu sụt giảm đành phải cắt sản lượng và công nhân. Trong khi đó một số doanh nghiệp đành phải để trống các nhà xưởng và để cho máy móc chuyên sản xuất hàng IKEA không hoạt động.
 Khách hàng chiến lược sẽ đem tới mức lợi nhuận thấp trong dài hạn, khi doanh nghiệp không đánh giá đúng mối quan hệ. Nhìn chung vào một thời điểm nhất định thì lợi nhuận của công ty sẽ tỷ lệ với độ lớn của khách hàng do doanh nghiệp đạt được lợi thế quy mô (các chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp sẽ thấp hơn). Tuy nhiên, các khách hàng lớn này thường sử dụng sức mạnh mua hàng của mình để hạ giá. Kết quả là trong dài hạn lợi nhuận mà khách hàng này đem lại sẽ thấp. Rủi ro này xảy ra khi doanh nghiệp nhầm lẫn giữa những khách hàng lớn – là những khách hàng mà doanh nghiệp bán được khối lượng hàng hóa lớn tuy nhiên không có mối quan hệ chiến lược và lợi nhuận mà khách hàng này đem lại thấp – với khách hàng chiến lược. Việc hiểu nhầm này sẽ dẫn đến doanh nghiệp sẽ đầu tư sai vào việc xây dựng mối quan hệ chiến lược và không tập trung vào phát triển các khách hàng mới có tiềm năng trong tương lai. IKEA đã từng là những khách hàng lớn của doanh nghiệp sản xuất hàng gia dụng Việt Nam. Doanh số xuất khẩu của một doanh nghiệp liên tục tăng, có khi lên đến 1.6 triệu USD/năm. Tuy nhiên doanh nghiệp đã không đánh giá đúng mối quan hệ với IKEA. Mối quan hệ giữa nhà cung cấp Việt Nam và IKEA chỉ dừng ở mối quan hệ với khách hàng lớn.
Quan hệ chiến lược với khách hàng gặp thất bại khi không đánh giá dược độ “trung thành” của khách hàng. Trên thực tế rủi ro này xảy ra khi khách hàng thực hiện sự thay đổi. Sự thay đổi này xảy ra khi chiến lược kinh doanh của khách hàng thay đổi, và kết quả là họ sẽ thay đổi các nhà cung cấp. Chẳng hạn như năm 2005, hãng Apple đã công bố hợp tác chiến lược với Intel để xây dựng dòng sản phẩm mới của Apple. Điều này cũng đồng nghĩa với việc Apple kết thúc hợp tác chiến lược với nhà cung cấp IBM và Freescale. Mục tiêu của Apple đã thay đổi theo đó họ sẽ phát triển những máy nghe nhạc kỹ thuật số iPod và phục vụ thị trường người tiêu dùng với giá thấp mà các đối tác cũ của họ (IBM và Freescale) không hỗ trợ được. Điều này cho thấy rằng mối quan hệ chiến lược giữa Apple với IBM và Freescale là tạm thời và tồn tại trong thời gian ngắn do Apple có những chiến lược phát triển kinh doanh riêng và việc lựa chọn công nghệ hoàn toàn độc lập. Kết quả là IBM và Freescale đã đầu tư rất nhiều trong việc xây dựng mối quan hệ chiến lược với Apple nhưng không đạt được kết quả như mong đợi.
Những gợi ý cho các nhà quản lý khách hàng chiến lược
Việc đầu tư xây dựng một danh mục khách hàng chiến lược (strategic customer portfolio) luôn thôi thúc các nhà quản trị và những doanh nghiệp phát triển mô hình kinh doanh hướng về khách hàng. Để tránh những rủi ro trong quá trình xây dựng danh mục này, các nhà quản trị nên cân nhắc một số gợi ý sau:
• Giảm bớt sự phụ thuộc vào một số khách hàng chiến lược thông qua tạo ra một danh mục cân bằng các khách hàng chiến lược. Theo Tổng giám đốc Gilimex – đơn vị có đơn hàng của IKEA chiếm khoảng 40% – đã chia sẻ rằng công ty đang cố gắng không phụ nhiều vào IKEA bằng cách hợp tác với tập đoàn Target và mở rộng thị trường sang Mỹ.
• Đánh giá đúng mối quan hệ với khách hàng bằng cách phân biệt rõ khách hàng lớn và khách hàng chiến lược. Việc phận biệt này đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng một hệ thống đánh giá các khách hàng, hơn là chỉ đơn thuần dựa vào độ lớn của khách hàng (thông thường được đo bằng số lượng lớn hàng được mua, hoặc doanh thu lớn). Hơn thế nữa, do các hạn chế để tính đúng các chi phí phục vụ cho khách hàng nên việc xác định này sẽ giúp doanh nghiệp tránh đầu tư vào những khách hàng lớn nhưng lợi nhuận đem lại không cao.
• Quan tâm đến chiến lược kinh doanh của khách hàng chiến lược. Hiểu được cách thức kinh doanh của khách hàng chiến lược cho phép doanh nghiệp chủ động hơn trong cách tiếp cận quản lý. IKEA với phương thức kinh doanh luôn luôn mong muốn bán các sản phẩm gia dụng có chất lượng tốt với một mức giá thấp tới người tiêu dùng trên toàn cầu. Điều này yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp hàng IKEA phải luôn luôn nỗ lực cắt giảm chi phí và cải tiến sản xuất – theo một giám đốc doanh nghiệp làm hàng thủ công mỹ nghệ có nhiều năm hợp tác với IKEA.

Thứ Sáu, 7 tháng 6, 2013

NGÂN HÀNG

I) Khái niệm
ngân hàng hay nhà băng là 1 tổ chức thực hiện các hoạt động tín dụng như nhận tiền gửi, cho vay và đầu tư tài chính, các hoạt động thanh toán, phát hành các loại kỳ phiếu, hối phiếu, v.v... và một số hoạt động khác. Một số ngân hàng còn có chức năng phát hành tiền.
II) Nguồn gốc
 Ngân hàng bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ các đồ vật quý cho những người chủ sở hữu nó, tránh gây mất mát. Đổi lại, người chủ sở hữu phải trả cho người giữ một khoản tiền công. Khi công việc này mang lại nhiều lợi ích cho những người gửi, các đồ vật cần gửi ngày càng đa dạng hơn, và đa đại diện cho các vật có giá trị như vậy là tiền, dần dần, ngân hàng là nơi giữ tiền cho những người có tiền. Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển, nhu cầu về tiền ngày càng lớn, tức là phát sinh nhu cầu vay tiền ngày càng lớn trong xã hội. Khi nắm trong tay một lượng tiền, những người giữ tiền nảy ra một nhu cầu cho vay số tiền đó, vì lượng tiền trong tay họ không phải bao giờ cũng bị đòi trong cùng một thời gian, tức là có độ chênh lệch lượng tiền cần gửi và lượng tiền cần rút của người chủ sỡ hữu. Từ đó phát sinh nghiệp vụ đầu tiên nhưng cơ bản nhất của ngân hàng nói chung, đó là huy động vốn và cho vay vốn.
III) Các loại ngân hàng
1) Ngân hàng thương mại

Khái niệm ngân hàng thương mại


Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM:
  • Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
  • Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
  • Ở Việt Nam, Định nghĩa Ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán
Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.

 Chức năng của ngân hàng thương mại

a)  Trung gian tín dụng 

Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay...
b) Trung gian thanh toán

Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.
Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
c) Chức năng tạo tiền

Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.
Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với nhtm. do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn.

Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của NHTM

a) Sự gia tăng nhanh chóng các sản phẩm  dịch vụ 

Ngày nay, các ngân hàng đang mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ tài chính mà họ cung cấp cho khách hàng. Qúa trình mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ đã tăng tốc trong những năm gần đây dưới áp lực cạnh tranh gia tăng từ các tổ chức tài chính khác, từ sự hiểu biết và đòi hỏi cao hơn của khách hàng, và từ sự thay đổi công nghệ.
b) Sự gia tăng cạnh tranh
 Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đang ngày càng trở nên quyết liệt khi ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ. Các ngân hàng địa phương cung cấp tín dụng, kế hoạch tiết kiệm, kế hoạch hưu trí, dịch vụ tư vấn tài chính cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng. Đây là những dịch vụ đang phải đối mặt với sự cạnh tranh trực tiếp từ các ngân hàng khác, các hiệp hội tín dụng, ngân hàng đầu tư Merrill Lynch, các công ty tài chính như GE Capital và các tổ chức bảo hiểm như Prudential. Áp lực cạnh tranh đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát triển dịch vụ cho tương lai.
c) Gia tăng chi phí vốn
 Sự nới lỏng luật lệ kết hợp với sự gia tăng cạnh tranh làm tăng chi phí trung bình thực tế của tài khoản tiền gửi – nguồn vốn cơ bản của ngân hàng. Với sự nới lỏng các luật lệ, ngân hàng buộc phải trả lãi do thị trường cạnh tranh quyết định cho phần lớn tiền gửi. Đồng thời, Chính phủ yêu cầu các ngân hàng phải sử dụng vốn sở hữu nhiều hơn – một nguồn vốn đắt đỏ - để tài trợ cho các tài sản của mình. Điều đó buộc họ phải tìm cách cắt giảm các chi phí hoạt động khác như giảm số nhân công, thay thế các thiết bị lỗi thời bằng hệ thống xử lý điện tử hiện đại. Các ngân hàng cũng buộc phải tìm các nguồn vốn mới như chứng khoán hóa một số tài sản, theo đó một số khoản cho vay của ngân hàng được tập hợp lại và đưa ra khỏi bảng cân đối kế toán; các chứng khoán được đảm bảo bằng các món vay được bán trên thị trường mở nhằm huy động vốn mới một cách rẻ hơn và đáng tin cậy hơn. Hoạt động này cũng có thể tạo ra một khoản thu phí không nhỏ cho ngân hàng, lớn hơn so với các nguồn vốn truyền thống (như tiền gửi).
d)  Sự gia tăng các nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất
 Các qui định của Chính phủ đối với công nghiệp ngân hàng tạo cho khách hàng khả năng nhận được mức thu nhập cao hơn từ tiền gửi, nhưng chỉ có công chúng mới làm cho các cơ hội đó trở thành hiện thực. Và công chúng đã làm việc đó. Hàng tỷ USD trước đây được gửi trong các tài khoản tiết kiệm thu nhập thấp và các tài khoản giao dịch không sinh lợi kiểu cũ đã được chuyển sang các tài khoản có mức thu nhập cao hơn, những tài khoản có tỷ lệ thu nhập thay đổi theo điều kiện thị trường. Ngân hàng đã phát hiện ra rằng họ đang phải đối mặt với những khách hàng có giáo dục hơn, nhạy cảm với lãi suất hơn. Các khoản tiền gửi “trung thành” của họ có thể dễ tăng cường khả năng cạnh tranh trên phương diện thu nhập trả cho công chúng gửi tiền và nhạy cảm hơn với ý thích thay đổi của xã hội về vấn đề phân phối các khoản tiết kiệm.
2) Ngân hàng trung ương
 Ngân hàng trung ương (có khi gọi là ngân hàng dự trữ, hoặc cơ quan hữu trách về tiền tệ) là cơ quan đặc trách quản lý hệ thống tiền tệ của quốc gia/nhóm quốc gia/vùng lãnh thổ và chịu trách nhiệm thi hành chính sách tiền tệ. Mục đích hoạt động của ngân hàng trung ương là ổn định giá trị của tiền tệ, ổn định cung tiền, kiểm soát lãi suất, cứu các ngân hàng thương mại có nguy cơ đổ vỡ. Hầu hết các ngân hàng trung ương thuộc sở hữu của Nhà nước, nhưng vẫn có một mức độ độc lập nhất định đối với Chính phủ.
Nguồn gốc :

Ngân hàng trung ương ra đời chính thức đầu tiên ở Châu Âu, vào thế kỷ 17. Khi ấy, tiền mặt lưu hành vẫn chủ yếu dưới dạng vàngbạc, tuy rằng, các tờ cam kết thanh toán (promises to pay) đã được sử dụng rộng rãi như là những biểu hiện của giá trị ở cả Châu ÂuChâu Á. Ngược lại 500 năm trước đấy, Tổ chức Hiệp sĩ dòng Đền (Knight Templar) thời Trung Cổ sử dụng một cơ chế có thể nói là hình mẫu đầu tiên của Ngân hàng trung ương. Các giấy tờ cam kết thanh toán của họ được chấp nhận rộng rãi, và nhiều người cho rằng các hoạt động này đặt nền tảng cơ bản cho hệ thống ngân hàng hiện đại. Cùng thời gian đó, Thành Cát Tư Hãn phát hành tiền giấy ở Trung Hoa, và áp đặt sử dụng loại tiền này bằng bạo lực nhằm thu giữ vàng bạc.
Ngân hàng trung ương đầu tiên là Ngân hàng Thụy Điển (Bank of Sweden) năm 1668 với sự giúp đỡ của các doanh nhân Hà Lan. Ngân hàng Anh (Bank of England) ra đời tiếp sau đó năm 1694 bởi doanh nhân người Scotland là William Paterson tại London theo yêu cầu của chính phủ Anh với mục đích tài trợ cuộc nội chiến lúc đó. Cục Dự trữ Liên bang của Mỹ được thành lập theo yêu cầu của Quốc hội tại đạo luật mang tên hai nghị sĩ đệ trình là Glass và Owen (Glass-Owen Bill). Tổng thống Woodrow Wilson ký đạo luật ngày 23 tháng 12 năm 1913.
Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (Tiếng Anh là People’s Bank of China – Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa) bắt đầu các chức năng ngân hàng trung ương năm 1979 cùng với chính sách cải cách kinh tế. Vai trò ngân hàng trung ương của nó được đẩy mạnh năm 1989 khi đất nước này chuyển đổi sâu sắc hơn sang nền kinh tế hướng xuất khẩu. Tới năm 2000, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã là một ngân hàng trung ương về mọi mặt, với cơ cấu và hoạt động có tham khảo Ngân hàng Trương ương Châu Âu vốn là mô hình ngân hàng trung ương mới nhất, chi phối ngân hàng trung ương của các quốc gia thành viên mà vẫn để quyền quản lý kinh tế quốc gia cho các ngân hàng đó.
Chức năng :

Phát hành tiền tệ

Ở phần lớn các nước, ngân hàng trung ương là cơ quan duy nhất có quyền phát hành tiền tệ. Ở một số nước khác, ngân hàng trung ương là cơ quan duy nhất phát hành tiền giấy, còn tiền kim loại với tư cách là tiền bổ trợ thì do chính phủ phát hành. Cục Dự trữ Liên bang- ngân hàng trung ương của Mỹ- không có chức năng phát hành tiền, thay vào đó là Bộ Tài chính đảm nhiệm chức năng này. Cũng có thông tin cho rằng Chính phủ Mỹ không có quyền phát hành đồng Đô-la, mà là do Cục Dự Trữ Liên Bang phát hành.Nhưng hiện nay đã có rất nhiều cuộc nghiên cứu, và họ đã phát hiện ra thực chất Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ mới có quyền phát hành tiền tệ, Chính phủ Mỹ không có quyền này. Điều đó đồng nghĩa với việc họ nắm toàn quyền trong việc xây dựng và thực hiện cách chính sách tiền tệ, từ đó thao túng nền tài chính toàn cầu. Tệ hại hơn đó lại là ngân hàng của tư nhân vì cổ phần của họ chiếm đại đa số, thành viên Hội Đồng Quản Trị được Quốc Hội và Chính phủ bổ nhiệm cũng dưới quyền của Ban cố vấn ( do Hội đồng cổ đông bổ nhiệm). ./ 

Ngân hàng của các tổ chức tín dụng

 Ngân hàng trung ương thực hiện công việc tái chiết khấu các hối phiếu đối với các tổ chức tín dụng, cấp vốn thông qua cho vay đối với các tổ chức này( đồng thời qua đây kiểm soát lãi )
Ngân hàng trung ương còn mua và bán các giấy tờ có giá, qua đó điều tiết lượng vốn trên thị trường.
Ngân hàng trung ương có quyền yêu cầu các ngân hàng thương mại mở tài khoản tại chỗ mình và các ngân hàng phải gửi vào tài khoản của họ một lượng tiền nhất định. Thông thường lượng tiền này được quy định tương đương với một tỷ lệ nào đó tiền gửi vào ngân hàng thương mại, gọi là tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Trong trường hợp có tổ chức tín dụng gặp nguy cơ đổ vỡ làm ảnh hưởng đến cả hệ thống tài chính của quốc gia, ngân hàng trung ương sẽ tái cấp vốn cho tổ chức tín dụng đó để cứu nó. Vì thế, ngân hàng trung ương được gọi là người cho vay cuối cùng (hay người cho vay cứu cánh).

Thứ Năm, 30 tháng 5, 2013

Nghị Lực Là Gì ?

1. Định nghĩa.
Khi ai bảo ông X có nghị lực, ta hiểu ngay là ông ấy có một chí hướng và đủ năng lực thắng mọi trở ngại để đạt chí hướng ấy. Nhưng ta thường nghĩ lầm rằng nghị lực là một năng lực tinh thần, sự thực nó gồm ba năng lực đều quan trọng cả: - Suy nghĩ. - Quyết định. - Và thực hành. Tôi xin lấy một thí dụ: tôi muốn lựa một nghề và tôi nghĩ đến nghề y sĩ hoặc giáo sư. Trước hết tôi phải xét mỗi nghề đó cần đến những khả năng nào và tôi có những khả năng ấy không; lại xét nghề nào có tương lai hơn, hợp với gia cảnh của tôi hơn…
Khi đã so sánh kỹ lưỡng, tôi quyết định lựa một nghề, rồi ghi tên vào ban đại học dạy nghề đó. Sau cùng, tôi phải kiên nhẫn học tập cho tới khi thành tài. Nếu thiếu công việc thứ nhất là suy nghĩ, lựa chọn – mà hễ thiếu công việc đó thì cũng thiếu luôn công việc thứ nhì là quyết định - chẳng hạn, nếu tôi vâng lời song thân tôi mà học nghề y sĩ, chứ trong lòng tôi chẳng thích gì nghề đó cả, rồi ngoan ngoãn cắp sách tới trường học đủ bài để thi, thì bạn chỉ có thể bảo tôi là một người con hiếu thuận chứ chưa thể cho tôi là có nghị lực được.

2. Xét về phương diện sinh lý
Vì nghị lực gồm ba năng lực tinh thần nên khó mà định được phần nào trong cơ thể ta điều khiển nghị lực. Ông Ferrier kể trường hợp những người có bệnh ở phần óc phía trán mà sinh ra mất nghị lực rồi ông kết luận rằng chính phần óc đó là cơ quan của nghị lực. Các nhà bác học hiện nay không công nhận thuyết ấy vì phần óc đó thực ra chỉ điều khiển những vận động tự ý của ta thôi, mà những vận động này, như tôi đã nói trong đoạn trên, chỉ là giai đoạn thứ ba của nghị lực. Khoa học chưa tìm được cơ quan nào điều khiển sự suy nghĩ và quyết định: người ta chỉ biết là ở óc, nhưng phần nào ở óc và óc hoạt động ra sao để suy nghĩ, quyết định thì chưa ai rõ. Chúng ta nên biết thêm rằng có những hạch ảnh hưởng lớn tới bộ thần kinh. Bác sĩ Lepold Lévi nhận xét một em nhỏ dưới mười một tuổi học giỏi nhất lớp. Vì muốn cắt một cái bướu, ông phải cắt luôn hạch ở trước cổ (thyroide) và từ đó, những cơ năng tinh thần của em lần lần suy giảm: em nói rất chậm chạp, cử động uể oải, ký tính kém sút. Ba năm sau, em hoàn toàn quên hẳn chữ, không viết và cũng không đọc được nữa, em tỏ ra nóng tính, quạu cọ. Ông lấy nước hạch đó của loài cừu chích cho em thì cơ năng tinh thần của em lần lần phục hồi, chỉ một tháng sau, em viết được thư; và hễ ngưng chích ít lâu thì bệnh trở lại như cũ. Ông kể thêm nhiều trường hợp như vậy và kết luận rằng những người ít hăng hái, hoạt động, là do hạch trước cổ suy nhược.
Một đời sống hợp vệ sinh, những thức ăn lành, bổ, cách thâm hô hấp cũng ảnh hưởng tốt đến nghị lực; trái lại bệnh nghiện rượu, nghiện thuốc phiện làm cho con người bạc nhược và di hại đến đời sau. Ở cuối sách, chúng tôi sẽ chỉ những phép vệ sinh phải theo để tăng cường nghị lực; dưới đây hãy xin xem xét kỹ về phương diện tâm lý của nghị lực.

3. Về phương diện tâm lý
Người có nghị lực có đủ ba đức tính: có sáng kiến, biết quyết định và hành động đắc lực. Có sáng kiến là biết tự vạch con đường để đi, không theo ý chí của ai. Óc sáng kiến đó không cần phải nẩy nở lắm như óc các nhà bác học: miễn là biết tự kiếm lấy giải pháp cho những công việc thường ngày là được. Như vậy, hạng người trung bình nào cũng có đủ sáng kiến để có nghị lực: nhưng thiếu sáng kiến thì quyết nhiên không được, ta sẽ chỉ như người bù nhìn để người khác giật dây mà bù nhìn thì làm gì còn có nghị lực, cần dùng gì tới nghị lực ? Quyết định phải nhanh để hoạt động cho kịp thời, không do dự mà bỏ lỡ cơ hội; và phải sáng suốt để sau khỏi thường hay đổi ý kiến. Đức quyết đoán quan trọng lắm, nên người ta hay dùng nó để xét một người có nghị lực hay không. Song giai đoạn quan trọng nhất vẫn là giai đoạn thực hành và muốn thực hành phải bền chí hoạt động, gặp trở ngại gì cũng ráng san phẳng cho được. Phải tự chủ được mình, thắng các cám dỗ ở ngoài và bản tính thích an nhàn, dật lạc của loài người. Tuy nhiên ba đức ấy nên vừa phải, nếu quá mức thì lại có hại cho nghị lực. Óc sáng kiến mà mạnh quá, không được hợp lý thì ta hoá gàn dở, mơ mộng, ngược đời. Tinh thần quyết định mà thiếu quân bình thì có thể thành tật nông nổi, nhẹ dạ, hoặc quá cẩn thận đến nhút nhát. Bền gan mà không sáng suốt, biết tuỳ thời thì thành bướng bỉnh, xuẩn động. Và một người tự chủ quá có thể thiếu tình cảm mà hoá ra lãnh đạm. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nghị lực. Thói quen mới đầu giúp ta dễ hành động nhưng có thể giảm nghị lực vì nó làm cho ta thành cái máy, không cần suy nghĩ, gắng sức nữa. Chẳng hạn bạn muốn bỏ tật hút thuốc lá, mấy ngày đầu thấy khó, sau nhờ thói quen mà thấy dễ, lần lần bạn không phải dùng nghị lực nữa mà không dùng tới nó lâu thì nó có thể suy. Sự hiểu rộng biết nhiều giúp ta suy nghĩ sáng suốt, nhưng chính tình cảm mãnh liệt mới giúp ta quyết định mau lẹ và bền chí thực hành. Học rộng mà thiếu đức tin thường chỉ là hạng người nói hay mà làm dở. Hoàn cảnh xã hội có thể tăng hay giảm nghị lực của ta. Được người khác khuyến khích, ta hăng hái theo đuổi mục đích; bị thiên hạ thờ ơ, ta chán nản mà bỏ dở công việc. Những luật sinh lý và tâm lý ấy có những áp dụng vào sự rèn nghị lực mà tôi sẽ chỉ trong phần II.

4. Có ai thiếu hẳn nghị lực không ?
Trước khi qua chương, tôi cần phải đánh đổ một niềm tin tưởng sai lầm rất hại cho sự rèn luyện của ta. Nhiều người nghĩ rằng nghị lực là một năng lực kỳ diệu trời cho mới được và giúp ta làm những việc phi thường. Tôi xin nhắc lại, nghị lực gồm ba năng lực chứ không phải là một năng lực; ba năng lực ấy ai cũng có, chỉ trừ những kẻ bệnh tật nặng, mà đầu chương sau, tôi sẽ xét tới. Ai là người mỗi ngày hoặc mỗi tuần không suy nghĩ, quyết định rồi thực hành một việc gì đó nhỏ hay lớn? Sáng chủ nhật trước, bạn thức dậy, do dự không biết nên đi thăm một người quen hay đi xem hát bóng , sau bạn nhất định đi thăm người đó và điểm tâm xong, bạn thay quần áo đi liền. Như vậy là bạn có nghị lực rồi đấy. Làm việc đó, bạn không cần có nghị lực lớn, và tuy chưa được hân hạnh biết bạn, tôi cũng có thể nói chắc mà không sợ lầm rằng đã có ít nhất là vài lần bạn tỏ ra có nghị lực khá mạnh. Bạn nhớ lại, từ trước tới nay, đã làm được việc gì khó khăn chưa? Hồi còn đi học, gần tới kỳ thi ra trường, bạn đã thức khuya dậy sớm, nhịn dạo phố, coi hát để ôn bài chứ? Rồi lúc tản cư, bạn đã có lần nào chân mỏi rã rời mà cũng ráng quẩy đồ trên vai, lết từng bước hàng mấy cây số nữa để tới chỗ nghỉ không? Có ư ? Vậy thì vấn đề: “bạn quả có thiếu hẳn nghị lực không ?” mà chúng ta đã nêu ra ở cuối chương trước, khỏi cần phải bàn nữa, phải chăng bạn ? Một thi sĩ thấy tôi soạn cuốn này, mỉm cười bảo: - Không có nghị lực mới cần rèn nghị lực, mà muốn rèn nghị lực thì phải có nghị lực đã: đã thiếu nó rồi thì làm sao rèn nó được ? Vấn đề rèn nghị lực quả là một vấn đề lẩn quẩn. Lời đó, mới nghe thì chí lý, nhưng hoàn toàn sai chính vì thi sĩ đó, cũng như bạn, nghĩ rằng có những người thiếu nghị lực. Quan niệm sai lầm làm hại biết bao thanh niên! Họ tin rằng không có nghị lực nên tự học không được, tu thân không được, không thành công được, rồi chán nản, sầu tủi nghĩ đến tương lai mờ ám, đến kiếp sống thừa của mình. Họ có thiện chí lắm, thấy điều phải rất muốn theo, thấy cái đẹp rất muốn làm, mà rút cục chẳng làm được gì cả vì không hiểu rõ bản thể của nghị lực. Không! Không một người nào bẩm sinh ra thiếu hẳn nghị lực, chỉ có những người mà nghị lực suy kém hoặc không quân bình thôi. Trong chương sau, chúng ta sẽ xét qua những bệnh đó của nghị lực.

TÓM TẮT 1
Nghị lực không phải là một năng lực độc nhất mà gồm ba năng lực: suy nghĩ, quyết định, thực hành. Người nào cũng có 3 năng lực ấy, nên ta không thể bảo: “Tôi thiếu nghị lực” mà chỉ có thể nói: “Tôi có bệnh về nghị lực”. 2. Về phương diện sinh lý, các nhà bác học chưa định được phần nào trong cơ thể ta điều khiển nghị lực. Chúng ta chỉ mới biết rằng một đời sống hợp vệ sinh, và nhiều hạch như hạch trước cổ ảnh hưởng đến hoạt động tinh thần, và đến nghị lực của ta. 3. Về phương diện tâm lý, người nghị lực có những đức sau này: - Óc sáng kiến. - Tinh thần quyết đoán. - Bền chí, tự chủ. Những đức ấy phải trung hoà, nếu thái quá sẽ thành những tật, hại cho nghị lực.
4. Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nghị lực như
- Thói quen mới đầu giúp cho nghị lực, lâu có thể làm hại nghị lực.
- Sự hiểu rộng biết nhiều giúp ta suy nghĩ, nhưng chính tình cảm nồng nhiệt mới giúp ta quyết định mau và bền chí thực hành.
- Hoàn cảnh xã hội, như những lời khen, chê của người khác, làm tăng hoặc giảm nghị lực của ta.

Những Bệnh Nghị Lực
1. Bệnh mất nghị lực. Có những người bị một chứng bệnh nào nặng quá mà không làm được những cử động họ muốn làm nữa. Chẳng hạn họ khát nước lắm, đòi uống nhưng ly đã kề môi mà họ uống không được; hoặc họ muốn ký tên mà cầm bút cả nửa giờ, mím môi, nghiến răng, cố đưa ngọn bút đến toát mồ hôi mà không sao đưa nổi. Các nhà bác học xét kỹ trường hợp các bệnh nhân ấy, thấy bắp thịt họ bình thường, trí óc họ cũng sáng suốt, mà thực hành điều đã quyết định thì không được. Có lẽ do bộ thần kinh họ hư. Nhưng bảo họ là hoàn toàn mất nghị lực thì cũng chưa hẳn vì người ta đã thấy một ông già muốn đi chơi mà tới ngưỡng cửa thì đứng trân trân, không sao bước được nữa, sau phải có người cõng đặt vào xe hơi; xe chạy và tới khi cán một người đàn bà thì lạ thay! Chính ông già ấy mở ngay cửa xe, nhảy xuống trước hết để cứu nạn nhân. Y học hiện nay chưa giảng được bệnh ấy. Bỏ trường hợp đặc biệt và rất hiếm đó đi, còn những bệnh khác về nghị lực đều là những bệnh thông thường mà tôi chia làm ba hạng tuỳ theo bệnh về sáng kiến, về quyết định hoặc hoạt động. Sự phân loại như vậy rất miễn cưỡng – vì quyết định cũng cần sáng kiến mà hoạt động với quyết định nhiều khi không thể tách rời nhau được – song cuốn này không phải là khảo cứu về y học hay tâm lý mà có tính cách rất thực tiễn là giúp độc giả rèn nghị lực, nên tôi giữ sự phân loại ấy cho dễ trình bày.

2. Bệnh về sáng kiến, suy xét
Người nhu thuận / Người bạo loạnBệnh về sáng kiến.
Như tôi đã nói, phải có sáng kiến, tự vạch con đường đi thì mới gọi là có nghị lực. Người thiếu sáng kiến là người nhu thuận, trái với nhu thuận là bạo loạn. - Ai cũng biết có những người đàn ông mà nhu mì như đàn bà. Hồi nhỏ sống với cha mẹ thì đúng như câu tục ngữ “cha mẹ đặt đâu ngồi đấy”. Cha mẹ muốn cái gì, họ ngoan ngoãn vâng lời, không hề suy nghĩ thắc mắc về vấn đề này, vấn đề nọ, hình như họ không có cả đến cá tính nữa. Lớn lên, khi thành gia , họ để mặc vợ lo toan mọi việc, từ việc ăn mặc đến việc xử thế, nhất thiết vợ chỉ cho cả; vợ bảo bận chiếc áo này thì họ bận, bảo đeo chiếc cà vạt kia thì họ đeo, đeo xong, giá vợ có bảo cởi ra thì họ cũng cởi, chẳng hề lấy làm lạ. Có lẽ họ là những người sướng nhất đời; nhưng họ có thấy rằng họ sướng không, điều ấy còn ngờ lắm. Không nên lầm hạng người vì quý mến cha mẹ mà vâng lời hoặc vì tính tình hợp với vợ mà hành động như vợ. Những người này tính tình bình thường, còn hạng người nhu thuận là những kẻ có bệnh mà nguyên do bệnh đó là một vài hạch nào trong cơ thể không phát triển điều hoà, cần có y sĩ chuyên môn trị mới hết. - Trái lại, có những người nhiều sáng kiến quá đến nỗi phản kháng ý kiến của bất kỳ ai; hồi nhỏ không chịu vâng lời cha mẹ, nhất định làm theo ý mình. Hạng người đó khó thành công vì không được ai giúp, chỉ trong những thời loạn may ra làm nên, song cũng không bền. Nguyên do cũng tại một hạch nào đó phát triển quá độ.

3. Bệnh về quyết định
Người phải bắt buộc mới chịu.
Bệnh về quyết định - Chúng ta cứ tưởng làm người ai mà không muốn được tự do; nhưng không, có những người không thích tự do: họ muốn có một quyền lực nào ép buộc họ và nếu để họ tự do thì họ chẳng chịu làm gì cả. Họ không thiếu sáng kiến, nhưng không chịu quyết định, để người khác quyết định giùm họ rồi thúc đẩy họ, họ mới miễn cưỡng chịu tiến. Hai thi hào Baudelaire và Gérard de Nerval tiêu biểu cho hạng đó. Chỉ khi nào chủ nợ lại la ó, hoặc nhà xuất bản lại doạ nạt, hai nhà đó mới chịu viết. Họ phàn nàn rằng người ta thúc họ hoài, bắt họ viết vội viết vàng, nên văn thơ không được như ý, nhưng nếu không giục họ thì chắc chắn họ chẳng viết được gì cả mà có viết thì có lẽ cũng không hay. Chẳng phải riêng nhiều nghệ sĩ có tâm trạng đó đâu, nhiều nhà doanh nghiệp cũng chỉ trổ tài được trong những lúc gấp rút. Hồi đi học cũng vậy, nhiều bạn trẻ đợi gần tới kỳ thi mới học; bảo họ dự bị sẵn sàng từ đầu năm đi, họ nhận là phải, song thú thực là học trước như vậy “không vô”, tinh thần không được kích thích mà thiếu minh mẫn. Những học sinh đó ra trường rồi, không còn gì bắt buộc học nữa, không phải thi cử nữa, tất liệng sách vở đi liền. Thần kinh họ có suy nhược không? Ta không biết. Bạn ở trong trường hợp đó nên kiếm một người thân để thúc đẩy mình, và tự mình phải tập bó buộc mình
- Lại có những người hay thay đổi quyết định quá, thành ra bất thường. Họ như con bướm, đậu bông này một chút rồi bay qua bông khác. Nguyên nhân có thể là do họ quyết định vội vàng quá, không chịu cân nhắc kỹ, nên phải quyết định lại. Nhưng thường khi là họ không đủ kiên nhẫn theo đến cùng. Trong trường hợp này, bệnh của họ thuộc về hoạt động hơn là về quyết định. Khi đau ốm, họ thử đủ thứ thuốc, nhưng thuốc nào họ cũng chỉ uống một hai thang, hoặc chích vài ba mũi rồi bỏ. Ra làm ăn, họ thử đủ các nghề, chưa biết kỹ nghề nào đã chán, lựa nghề khác. Người Pháp ví họ như những viên đá, lăn hoài, rêu bám vào không được. Có khi họ không biết họ muốn gì, có lẽ vì họ không muốn gì hết, ngoài sự mới mẻ, sự thay đổi. Nếu vậy thì quả là chí họ chưa định và bệnh của họ có thể sắp vào loại “bệnh về sáng kiến”.

4. Bệnh về hoạt động
- Người mê lý tưởng
- Người không tưởng
- Người lý sự
- Người bi quan
- Người ưa châm biếm
- Người không thể chú ý được
- Người quá hăng hái
Bệnh về hoạt động Trong xã hội nhan nhản những người có sáng kiến mà thực hành không được vì kém hoạt động.
- Có khi lý trí lấn áp tình cảm, ý tưởng lấn áp lòng muốn mà người ta thiếu hoạt động. Đó là trường hợp những người mê lý tưởng. Họ chẳng làm việc gì hết vì thấy chẳng có việc gì đáng làm; hoặc nếu có việc đáng làm thì họ đợi cho có đủ điều kiện này, điều kiện nọ để làm cho được hoàn toàn, rồi mới chịu làm. Bạn rủ họ đi chơi Huế, họ đáp: - Huế rất đẹp, có nhiều di tích, cảnh lại nên thơ, nên đi lắm; nhưng trước khi thăm Huế, phải coi hết những tích ở Bắc Việt đã, rồi lần theo bước đường Nam tiến của tổ tiên mà tới Huế. Lại phải thu thập đủ tài liệu về Huế đã chứ! Bạn thấy họ hiểu biết nhiều về hội hoạ, hỏi họ sao không viết sách phổ thông môn đó, họ cười:
- Viết thì phải viết cho đàng hoàng, không có chỗ chê. Phải thu thập đủ các bức danh hoạ cổ kim, đông tây rồi in hình màu trên giấy láng để độc giả thưởng thức. Một cuốn như vậy bán mấy ngàn đồng, ai mua ? Họ luôn luôn có luận điệu đó, nên họ có thể rất thông minh mà hoàn toàn bất lực, vô ích cho xã hội. - Khi lý tưởng của họ không có tính cách thực tế thì họ hoá ra không tưởng. Chẳng hạn họ nặn óc, lập những chương trình vĩ đại để diệt tận gốc chiến tranh trong hai mươi bốn giờ hoặc để diệt nạn mù chữ trên khắp thế giới trong nửa tháng. Họ mơ mộng viễn vông như vậy và gặp ai cũng đem ra bàn, bắt mọi người phải nghe và phải góp ý, nghĩa là phải khen vì họ không chịu ai chê họ hết. - Có người lý luận chu đáo quá đến nỗi không muốn hoạt động nữa. Họ nghèo, vợ con nheo nhóc, bảo họ làm nghề này nghề nọ để kiếm tiền, thì họ trầm ngâm suy nghĩ, tính toán từng li từng tí, đoán trước mọi sự trở ngại, mọi sự khó khăn xa hay gần, có thực hay tưởng tượng. Mở một quán tạp hoá ở đầu đường ư ? Ừ, ý đó có vẻ được đấy; nhưng để tính xem nào, có thành công được không đã chứ. Khu này, dân cư nghèo mà đã có ba tiệm tạp hoá rồi, mình mở thêm nữa, e không có lợi. Họ lý luận có vẻ xác đáng lắm, nhưng hình như chỉ ráng lý luận để chứng thực rằng chẳng nên làm gì cả. Tôi gọi họ là hạng lý sự. Thường thường hạng này hay bi quan, chỉ tưởng tượng toàn những nỗi khó khăn, làm ruộng thì sợ trâu chết, sợ nước lụt, sợ chuột, sợ còng; buôn bán thì sợ dân nghèo không có tiền mua, sợ giá hàng sẽ lên, khó bán, sợ người ta ăn cắp ăn nảy… Tệ hại nhất là khi họ đã chẳng làm gì mà còn châm biếm những người làm được việc. Họ đi đâu cũng kiếm cách giội những thùng nước lạnh vào lòng hăng hái của kẻ khác. Bạn giúp đỡ một gia đình nghèo ư? Họ bảo: còn những gia đình này nọ nghèo hơn, sao không giúp? Sao không giúp hết những kẻ khốn khó ở Bắc, ở Trung, ở châu Phi, châu Mỹ? Bạn hăng hái viết sách, họ hỏi: “Viết cho ai đọc đấy ? Tính xem bán được năm trăm cuốn không? Kiếm được bao nhiêu tiền? Công phu sáu tháng có bằng một cú áp phe của người này người nọ không ? Hay là tiên sinh muốn lưu danh thiên cổ đấy ?…” - Nhưng có một số người rất đáng thương. Họ không thể làm được việc gì vì không thể chú ý được lâu. Xưa nay, có lẽ chưa có người đa tài bằng Coleridge, sinh ở nước Anh cuối thế kỷ 18. Ông lý luận giỏi hơn các triết gia, tưởng tượng phong phú như một thi sĩ, và có nhiều sáng kiến kỳ dị. Vấn đề nào ông cũng hiểu rõ, làm cho hết thảy các người đương thời phải bái phục. Người ta bảo ông có hàng trăm dự định mà chẳng chịu thực hành một dự định nào cả. Một lần, ông xuất khẩu thành nhiều bài thơ rất hay, đọc cho một nhà xuất bản nghe. Người này chịu trả trước cho một số tiền, còn bao nhiêu hễ ông chép xong những bài thơ đó là trả nốt. Chỉ có việc chép lại mà ông làm cũng không được, cứ mỗi tuần lại quỵ luỵ, khúm núm năn nỉ nhà xuất bản thí cho một số tiền để tiêu. Thực nhục nhã. Có phải tại ông nghiện rượu và thuốc phiện từ hồi trẻ mà mắc chứng bệnh nghị lực đó không ? - Những hạng người kể trên, vì lẽ này hay lẽ khác mà thiếu hoạt động, còn hạng người dưới đây mắc tật ngược lại là hăng hái quá trong khi hoạt động. Họ không hề biết do dự, luôn luôn quyết định rất mau, rồi thực hành liền, không bao giờ lùi bước. Người ta bảo họ lầm lẫn, họ không chịu, cứ tiến tới, gần như mù quáng, không thấy trở ngại rành rành trước mắt. Họ độc tài, không nghe ai và bắt mọi người theo mình. Đôi khi họ thành công rực rỡ song thường thì thất bại. Họ có nhiều nghị lực quá và đó cũng là một thứ bệnh. Họ làm nô lệ nghị lực của họ, nhắm mắt đưa đầu đi trước. Người biết kiên nhẫn, tuỳ cơ ứng biến mới là khôn, còn họ chỉ là hạng cuồng, xuẩn.

TÓM TẮT
Trừ trường hợp rất hiếm của những người vì mắc một bệnh nào nặng đến nỗi mất nghị lực trong một thời gian, còn thì ai cũng có nghị lực và những người tưởng rằng mình thiếu nghị lực, thực ra chỉ là có bệnh về nghị lực. Những bệnh đó có nhiều loại, hoặc thuộc về óc sáng kiến, suy xét hoặc về sự quyết định, sự hoạt động. Ta nên xem bệnh nghị lực của ta thuộc về loại nào mà tìm cách trị bằng y học hay tâm lý.

Câu chuyện bông hồng hay Sức mạnh của sự tập trung



Ở một vùng quê nọ, có hai cha con một nhà buôn hoa đang sinh sống trong một khu vườn rộng lớn mênh mông là hoa. Người cha thì tính tình chăm chỉ, yêu lao động và là một người được cả xã hội công nhận về sự thành công trong lĩnh vực trồng hoa. Còn người con thì rất có nhiều tài - Anh được lớn lên trong vòng tay yêu thương và sự đầy đủ vật chất mà người cha ban cho - anh đã học được rất nhiều nghề, làm được rất nhiều điều hay ho. Nhưng ở tuổi 35 - anh vẫn là một người vô danh trước xã hội.

Anh luôn suy nghĩ về điều này, anh vẫn không thể hiểu nổi, tại sao anh đa tài thế, làm nhiều điều hay thế mà đến giờ anh vẫn chỉ là người vô danh.

Người cha hiểu ý anh, liền đưa anh đến vườn hoa mà ông chuẩn bị thu hoạch. Ông chỉ vào bông hồng to nhất, đẹp nhất và rực rỡ nhất nằm giữa vườn cho anh con trai và hỏi:

- Con có biết tại sao bông hồng kia lại to và đẹp rực rỡ hơn các bông hồng khác không?

- Có phải vì cha mua giống mới không?

- Không phải - người cha đáp - tất cả đều chung một giống hoa con ạ.

- Thế có phải cha tưới cho nó nhiều nước và bón cho nó nhiều chất dinh dưỡng hơn không?

- Cũng không phải. Tất cả điều kiện chăm sóc và môi trường sinh trưởng của chúng đều giống nhau.

- Vậy thì chắc là đất ở chỗ đó tốt hơn rồi cha nhỉ?

- Con lại sai rồi. Đất đều giống nhau.

Người con không biết trả lời sao nữa. Anh nghĩ hoài, nghĩ mãi, nghĩ mãi... nhưng vẫn không thể giải thích nổi tại sao lại như thế.

Lúc này, người cha mới ôn tồn bảo :

- Con có nhận thấy bông hồng này ít lá và ít nụ không?

- À đúng rồi. Nhưng có nghĩa là gì hả cha?

- Trong vườn hồng này, chỉ duy nhất có bông này là ta thường xuyên nhìn tới. Khi thấy nhiều lá mọc quanh nó quá, ta tỉa bớt. Khi thấy nó có nhiều chồi, nhiều nụ đâm ra, ta cũng tỉa.

Người con có vẻ hiểu ra điều gì đó, gật đầu liên tục. Người cha tiếp lời:

- Tất cả bông hồng đều có điều kiện sống như nhau, nhưng bông hồng này lại được một đặc ân của ta là tỉa bớt các cành, nụ và lá nên các chất dinh dưỡng sẽ được tập trung vào bông hoa mà không bị phân tán đi nơi khác. Chính vì thế mà nó sẽ trở nên to hơn, khỏe hơn, đẹp hơn và rực rỡ hơn hẳn những bông còn lại.

Trầm ngân một lúc ông lại tiếp tục :
- Cũng như con, con trai của ta ạ, tuy con rất giỏi, rất nhiều tài, con làm được rất nhiều việc nhưng con vẫn giống như những người khác là vì con thiếu sự tập trung, con bị phân tán năng lương và thời gian vào quá nhiều thứ. Con cần phải xác định lại con sẽ trở thành người như thế nào trong 5 năm tới - con đam mê gì nhất, điều gì khiến cho con trăn trở nhiều nhất, điều gì khiến cho con có thể sống chết với nó mà không quản khó khăn? Lúc đó con sẽ là người thành công, con trai ạ.

Lúc này, người con đã hiểu ra tất cả vấn đề. Anh khóc và quỳ xuống hôn vào tay người cha và cảm ơn rối rít - cảm ơn người cha về câu chuyện giúp anh nhìn nhận cuộc đời tốt hơn...

 

Vậy đấy các bạn ạ. Ai trên đời đều có nhiều mối quan tâm, nhiều sự lựa chọn trong cuộc sống, trong sự nghiệp. Nếu không biết cách tỉa bớt những điều khác đi để tập trung cho điều mình mong muốn nhất thì mãi mãi người đó vẫn là người vô danh như những con người khác.

MUỐN THÀNH CÔNG - BẠN PHẢI HIỂU ĐƯỢC SỨC MẠNH CỦA SỰ TẬP TRUNG.
Posted Image

SỨC MẠNH CỦA TỰ ÁM THỊ

Theo định nghĩa trong “Từ điển tiếng Việt”, tiềm thức là hoạt động tâm lý của con người mà bản thân người ấy không có ý thức. Những lời nói, hình ảnh, suy nghĩ, bất kể là tiêu cực hay tích cực, được lặp lại nhiều lần đến một lúc nào đó sẽ in sâu vào tiềm thức của con người. Đó là cách tự ám thị dù có chủ đích hay không có chủ đích. Napoleon Hill cho rằng: “Bạn có thể cấy vào trong tiềm thức của mình bất cứ kế hoạch, ý tưởng hay mục đích nào mà bạn khát khao mong muốn biến thành các giá trị vật chất hay tiền bạc tương đương.” Và “Hãy nhớ rằng, tiềm thức của bạn hoạt động bất kể bạn có cố gắng tác động đến nó hay không”. Vậy, hãy chọn cách sử dụng ý thức để khắc sâu vào tiềm thức những niềm tin tích cực.
Việc tự ám thị có chủ đích theo hướng tích cực, như tạo niềm tin về khả năng sẽ đạt được ước mơ, khát vọng của mình thúc đẩy con người hành động mạnh mẽ, kiên trì vượt qua mọi khó khăn thách thức để đạt mục tiêu. Charles F. Kettering, người có 140 bằng phát minh sáng chế và là tiến sĩ danh dự của 30 trường đại học từng khuyên: “Hãy tin tưởng và hành động như thể bạn không bao giờ thất bại”. Tiger Wood, nhà vô địch đánh golf Mỹ kể lại: suốt thời gian bị bắt và bị cầm tù trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, ông ta luôn tưởng tượng trong tâm trí mình sẽ là nhà vô địch đánh golf với những cú đánh hoàn hảo nhất. Khi ra tù và trở về nước ông ta đã hiện thực hóa được những điều tưởng tượng của mình, trở thành nhà vô địch. Tim Daggert và Peter Vidmar, hai vận động viên thể dục dụng cụ Mỹ đã đạt được huân chương vàng trong Thế vận hội Olympic cũng nhờ trong suốt quá trình luyện tập họ luôn tự ám thị mình sẽ là những nhà vô địch với những động tác đẹp nhất, chính xác nhất. Ngày nay phương pháp đó thường được các huấn luyện viên ứng dụng thành công đối với các học vận động viên của mình. Ludwig van Beethoven đã sáng tác những bản nhạc bất hủ sau khi ông bị điếc. Điều đó chứng tỏ ông đã tưởng tượng ra những âm thanh trầm bổng đó trước khi viết ra bản nhạc trên giấy. Quá trình tưởng tượng cần tập trung liên tục trong một thời gian dài với cảm xúc mạnh và hình ảnh rõ ràng đối với những gì mình muốn đạt được để những điều đó khắc sâu vào tiềm thức. Khi đó chính tiềm thức sẽ thúc đẩy con người hành xử một cách nhất quán với điều mình tưởng tượng. Người tạo dựng cho mình niềm tin vào bản thân và tin vào tương lai tươi sáng của mình thì sẽ luôn tập trung nghĩ về những giải pháp sáng tạo, nên không sớm thì muộn sẽ đạt được điều mình mong muốn. Vậy, hãy liên tục tưởng tượng về cuộc sống tương lai khi đạt được mục tiêu mơ ước để luôn định hướng đúng hành động của mình.
Việc tự ám thị theo hướng tiêu cực dù hoàn toàn không có chủ đích cũng gây nên hiệu quả tai hại khôn lường. Hậu quả của việc để những ý nghĩ tiêu cực chế ngự tâm trí là sự hình thành một tính cách tiêu cực – con đường đưa thẳng đến sự thất bại tất yếu. Người tự ám thị mình rằng cuộc sống nghèo khổ là số phận của mình thì cả đời sẽ cam chịu sống nghèo khổ. Người tự ám thị mình không thông minh sẽ mãi mãi chấp nhận làm theo, nói theo mà không bao giờ có sáng tạo gì có ý nghĩa. Tại một trường đại học ở đồng bằng sông Cửu Long có một trường hợp có thật, tiêu biểu cho tác hại của việc tự ám thị theo hướng tiêu cực. Một phó trưởng khoa nọ muốn được cất nhắc lên vị trí trưởng khoa nhưng không đạt được nguyện vọng, nên đâm lòng thù ghét người hiệu trưởng. Để trả thù, người phó trưởng khoa đó bèn viết thư nặc danh tố cáo vị hiệu trưởng với đủ thứ tội lỗi mà mình có thể nghĩ ra. Suốt cả năm trời những là thư nặc danh đó được gởi ngày cáng nhiều đi khắp nơi, từ các trường đại học trong vùng rồi đến lãnh đạo các tỉnh, lên cả lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo và Quốc hội. Những lá thư nặc danh đó không được cứu xét. Mặt khác công an cũng cho biết là không xác định được dấu vân tay trên các lá thư đó. Sự việc cứ tiếp diễn cho đến một ngày việc lặp đi lặp lại quá nhiều lần những điều mình tưởng tượng ra đã gây ra hiệu quả tự ám thị đến mức người phó trưởng khoa đó tin những điều mình tưởng tượng ra là có thật và chấp nhận nó như một sự thật hiển nhiên, đến mức trong bức thư tố cáo cuối cùng, người đó đã ký và ghi rõ tên thật của mình. Theo yêu cầu của vị hiệu trưởng, Ban thanh tra của tỉnh đã làm việc và đi đến kết luận là không có điều nào trong số hơn mười điều tố cáo trong thư là đúng sự thật. Kết quả cuối cùng là người phó trưởng khoa đã bị kỷ luật và ngay chức phó trưởng khoa cũng không giữ được. Đó là thảm họa của sự tự ám thị theo hướng tiêu cực.
Nếu ý thức được sức mạnh của sự tự ám thị thì cần nổ lực thay thế những ý nghĩ tiêu cực bằng việc thường xuyên lặp đi lặp lại nhiều lần các ý nghĩ và hành động tích cực hướng đến mục tiêu và khát vọng của mình. Đó là phương cách hiệu quả nhất để huy động mọi sức mạnh tiềm ẩn trong con người trên hành trình đến thành công. Napoleon Hill có lời nhắc nhở chí lý: “Thiên nhiên ban tặng cho con người quyền kiểm soát tuyệt đối một thứ duy nhất, đó là tư tưởng”. Vậy hãy luôn là người chủ khôn ngoan, sáng suốt của tâm trí mình.

chữ chạy

I Love You Forever, Nguyễn Lan Ngân

bb code youtube