1. Định nghĩa.
Khi ai bảo ông X có nghị lực, ta hiểu ngay là ông ấy có một chí hướng và
đủ năng lực thắng mọi trở ngại để đạt chí hướng ấy. Nhưng ta thường
nghĩ lầm rằng nghị lực là một năng lực tinh thần, sự thực nó gồm ba năng
lực đều quan trọng cả: - Suy nghĩ. - Quyết định. - Và thực hành. Tôi
xin lấy một thí dụ: tôi muốn lựa một nghề và tôi nghĩ đến nghề y sĩ hoặc
giáo sư. Trước hết tôi phải xét mỗi nghề đó cần đến những khả năng nào
và tôi có những khả năng ấy không; lại xét nghề nào có tương lai hơn,
hợp với gia cảnh của tôi hơn…
Khi đã so sánh kỹ lưỡng, tôi quyết định lựa một nghề, rồi ghi tên vào
ban đại học dạy nghề đó. Sau cùng, tôi phải kiên nhẫn học tập cho tới
khi thành tài. Nếu thiếu công việc thứ nhất là suy nghĩ, lựa chọn – mà
hễ thiếu công việc đó thì cũng thiếu luôn công việc thứ nhì là quyết
định - chẳng hạn, nếu tôi vâng lời song thân tôi mà học nghề y sĩ, chứ
trong lòng tôi chẳng thích gì nghề đó cả, rồi ngoan ngoãn cắp sách tới
trường học đủ bài để thi, thì bạn chỉ có thể bảo tôi là một người con
hiếu thuận chứ chưa thể cho tôi là có nghị lực được.
2. Xét về phương diện sinh lý
Vì nghị lực gồm ba năng lực tinh thần nên khó mà định được phần nào
trong cơ thể ta điều khiển nghị lực. Ông Ferrier kể trường hợp những
người có bệnh ở phần óc phía trán mà sinh ra mất nghị lực rồi ông kết
luận rằng chính phần óc đó là cơ quan của nghị lực. Các nhà bác học hiện
nay không công nhận thuyết ấy vì phần óc đó thực ra chỉ điều khiển
những vận động tự ý của ta thôi, mà những vận động này, như tôi đã nói
trong đoạn trên, chỉ là giai đoạn thứ ba của nghị lực. Khoa học chưa tìm
được cơ quan nào điều khiển sự suy nghĩ và quyết định: người ta chỉ
biết là ở óc, nhưng phần nào ở óc và óc hoạt động ra sao để suy nghĩ,
quyết định thì chưa ai rõ. Chúng ta nên biết thêm rằng có những hạch ảnh
hưởng lớn tới bộ thần kinh. Bác sĩ Lepold Lévi nhận xét một em nhỏ dưới
mười một tuổi học giỏi nhất lớp. Vì muốn cắt một cái bướu, ông phải cắt
luôn hạch ở trước cổ (thyroide) và từ đó, những cơ năng tinh thần của
em lần lần suy giảm: em nói rất chậm chạp, cử động uể oải, ký tính kém
sút. Ba năm sau, em hoàn toàn quên hẳn chữ, không viết và cũng không đọc
được nữa, em tỏ ra nóng tính, quạu cọ. Ông lấy nước hạch đó của loài
cừu chích cho em thì cơ năng tinh thần của em lần lần phục hồi, chỉ một
tháng sau, em viết được thư; và hễ ngưng chích ít lâu thì bệnh trở lại
như cũ. Ông kể thêm nhiều trường hợp như vậy và kết luận rằng những
người ít hăng hái, hoạt động, là do hạch trước cổ suy nhược.
Một đời sống hợp vệ sinh, những thức ăn lành, bổ, cách thâm hô hấp cũng
ảnh hưởng tốt đến nghị lực; trái lại bệnh nghiện rượu, nghiện thuốc
phiện làm cho con người bạc nhược và di hại đến đời sau. Ở cuối sách,
chúng tôi sẽ chỉ những phép vệ sinh phải theo để tăng cường nghị lực;
dưới đây hãy xin xem xét kỹ về phương diện tâm lý của nghị lực.
3. Về phương diện tâm lý
Người có nghị lực có đủ ba đức tính: có sáng kiến, biết quyết định và
hành động đắc lực. Có sáng kiến là biết tự vạch con đường để đi, không
theo ý chí của ai. Óc sáng kiến đó không cần phải nẩy nở lắm như óc các
nhà bác học: miễn là biết tự kiếm lấy giải pháp cho những công việc
thường ngày là được. Như vậy, hạng người trung bình nào cũng có đủ sáng
kiến để có nghị lực: nhưng thiếu sáng kiến thì quyết nhiên không được,
ta sẽ chỉ như người bù nhìn để người khác giật dây mà bù nhìn thì làm gì
còn có nghị lực, cần dùng gì tới nghị lực ? Quyết định phải nhanh để
hoạt động cho kịp thời, không do dự mà bỏ lỡ cơ hội; và phải sáng suốt
để sau khỏi thường hay đổi ý kiến. Đức quyết đoán quan trọng lắm, nên
người ta hay dùng nó để xét một người có nghị lực hay không. Song giai
đoạn quan trọng nhất vẫn là giai đoạn thực hành và muốn thực hành phải
bền chí hoạt động, gặp trở ngại gì cũng ráng san phẳng cho được. Phải tự
chủ được mình, thắng các cám dỗ ở ngoài và bản tính thích an nhàn, dật
lạc của loài người. Tuy nhiên ba đức ấy nên vừa phải, nếu quá mức thì
lại có hại cho nghị lực. Óc sáng kiến mà mạnh quá, không được hợp lý thì
ta hoá gàn dở, mơ mộng, ngược đời. Tinh thần quyết định mà thiếu quân
bình thì có thể thành tật nông nổi, nhẹ dạ, hoặc quá cẩn thận đến nhút
nhát. Bền gan mà không sáng suốt, biết tuỳ thời thì thành bướng bỉnh,
xuẩn động. Và một người tự chủ quá có thể thiếu tình cảm mà hoá ra lãnh
đạm. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nghị lực. Thói quen mới đầu giúp ta
dễ hành động nhưng có thể giảm nghị lực vì nó làm cho ta thành cái máy,
không cần suy nghĩ, gắng sức nữa. Chẳng hạn bạn muốn bỏ tật hút thuốc
lá, mấy ngày đầu thấy khó, sau nhờ thói quen mà thấy dễ, lần lần bạn
không phải dùng nghị lực nữa mà không dùng tới nó lâu thì nó có thể suy.
Sự hiểu rộng biết nhiều giúp ta suy nghĩ sáng suốt, nhưng chính tình
cảm mãnh liệt mới giúp ta quyết định mau lẹ và bền chí thực hành. Học
rộng mà thiếu đức tin thường chỉ là hạng người nói hay mà làm dở. Hoàn
cảnh xã hội có thể tăng hay giảm nghị lực của ta. Được người khác khuyến
khích, ta hăng hái theo đuổi mục đích; bị thiên hạ thờ ơ, ta chán nản
mà bỏ dở công việc. Những luật sinh lý và tâm lý ấy có những áp dụng vào
sự rèn nghị lực mà tôi sẽ chỉ trong phần II.
4. Có ai thiếu hẳn nghị lực không ?
Trước khi qua chương, tôi cần phải đánh đổ một niềm tin tưởng sai lầm
rất hại cho sự rèn luyện của ta. Nhiều người nghĩ rằng nghị lực là một
năng lực kỳ diệu trời cho mới được và giúp ta làm những việc phi thường.
Tôi xin nhắc lại, nghị lực gồm ba năng lực chứ không phải là một năng
lực; ba năng lực ấy ai cũng có, chỉ trừ những kẻ bệnh tật nặng, mà đầu
chương sau, tôi sẽ xét tới. Ai là người mỗi ngày hoặc mỗi tuần không suy
nghĩ, quyết định rồi thực hành một việc gì đó nhỏ hay lớn? Sáng chủ
nhật trước, bạn thức dậy, do dự không biết nên đi thăm một người quen
hay đi xem hát bóng , sau bạn nhất định đi thăm người đó và điểm tâm
xong, bạn thay quần áo đi liền. Như vậy là bạn có nghị lực rồi đấy. Làm
việc đó, bạn không cần có nghị lực lớn, và tuy chưa được hân hạnh biết
bạn, tôi cũng có thể nói chắc mà không sợ lầm rằng đã có ít nhất là vài
lần bạn tỏ ra có nghị lực khá mạnh. Bạn nhớ lại, từ trước tới nay, đã
làm được việc gì khó khăn chưa? Hồi còn đi học, gần tới kỳ thi ra
trường, bạn đã thức khuya dậy sớm, nhịn dạo phố, coi hát để ôn bài chứ?
Rồi lúc tản cư, bạn đã có lần nào chân mỏi rã rời mà cũng ráng quẩy đồ
trên vai, lết từng bước hàng mấy cây số nữa để tới chỗ nghỉ không? Có ư ?
Vậy thì vấn đề: “bạn quả có thiếu hẳn nghị lực không ?” mà chúng ta đã
nêu ra ở cuối chương trước, khỏi cần phải bàn nữa, phải chăng bạn ? Một
thi sĩ thấy tôi soạn cuốn này, mỉm cười bảo: - Không có nghị lực mới cần
rèn nghị lực, mà muốn rèn nghị lực thì phải có nghị lực đã: đã thiếu nó
rồi thì làm sao rèn nó được ? Vấn đề rèn nghị lực quả là một vấn đề lẩn
quẩn. Lời đó, mới nghe thì chí lý, nhưng hoàn toàn sai chính vì thi sĩ
đó, cũng như bạn, nghĩ rằng có những người thiếu nghị lực. Quan niệm sai
lầm làm hại biết bao thanh niên! Họ tin rằng không có nghị lực nên tự
học không được, tu thân không được, không thành công được, rồi chán nản,
sầu tủi nghĩ đến tương lai mờ ám, đến kiếp sống thừa của mình. Họ có
thiện chí lắm, thấy điều phải rất muốn theo, thấy cái đẹp rất muốn làm,
mà rút cục chẳng làm được gì cả vì không hiểu rõ bản thể của nghị lực.
Không! Không một người nào bẩm sinh ra thiếu hẳn nghị lực, chỉ có những
người mà nghị lực suy kém hoặc không quân bình thôi. Trong chương sau,
chúng ta sẽ xét qua những bệnh đó của nghị lực.
TÓM TẮT 1
Nghị lực không phải là một năng lực độc nhất mà gồm ba năng lực: suy
nghĩ, quyết định, thực hành. Người nào cũng có 3 năng lực ấy, nên ta
không thể bảo: “Tôi thiếu nghị lực” mà chỉ có thể nói: “Tôi có bệnh về
nghị lực”. 2. Về phương diện sinh lý, các nhà bác học chưa định được
phần nào trong cơ thể ta điều khiển nghị lực. Chúng ta chỉ mới biết rằng
một đời sống hợp vệ sinh, và nhiều hạch như hạch trước cổ ảnh hưởng đến
hoạt động tinh thần, và đến nghị lực của ta. 3. Về phương diện tâm lý,
người nghị lực có những đức sau này: - Óc sáng kiến. - Tinh thần quyết
đoán. - Bền chí, tự chủ. Những đức ấy phải trung hoà, nếu thái quá sẽ
thành những tật, hại cho nghị lực.
4. Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nghị lực như
- Thói quen mới đầu giúp cho nghị lực, lâu có thể làm hại nghị lực.
- Sự hiểu rộng biết nhiều giúp ta suy nghĩ, nhưng chính tình cảm nồng nhiệt mới giúp ta quyết định mau và bền chí thực hành.
- Hoàn cảnh xã hội, như những lời khen, chê của người khác, làm tăng hoặc giảm nghị lực của ta.
Những Bệnh Nghị Lực
1. Bệnh mất nghị lực. Có những người bị một chứng bệnh nào nặng quá mà
không làm được những cử động họ muốn làm nữa. Chẳng hạn họ khát nước
lắm, đòi uống nhưng ly đã kề môi mà họ uống không được; hoặc họ muốn ký
tên mà cầm bút cả nửa giờ, mím môi, nghiến răng, cố đưa ngọn bút đến
toát mồ hôi mà không sao đưa nổi. Các nhà bác học xét kỹ trường hợp các
bệnh nhân ấy, thấy bắp thịt họ bình thường, trí óc họ cũng sáng suốt, mà
thực hành điều đã quyết định thì không được. Có lẽ do bộ thần kinh họ
hư. Nhưng bảo họ là hoàn toàn mất nghị lực thì cũng chưa hẳn vì người ta
đã thấy một ông già muốn đi chơi mà tới ngưỡng cửa thì đứng trân trân,
không sao bước được nữa, sau phải có người cõng đặt vào xe hơi; xe chạy
và tới khi cán một người đàn bà thì lạ thay! Chính ông già ấy mở ngay
cửa xe, nhảy xuống trước hết để cứu nạn nhân. Y học hiện nay chưa giảng
được bệnh ấy. Bỏ trường hợp đặc biệt và rất hiếm đó đi, còn những bệnh
khác về nghị lực đều là những bệnh thông thường mà tôi chia làm ba hạng
tuỳ theo bệnh về sáng kiến, về quyết định hoặc hoạt động. Sự phân loại
như vậy rất miễn cưỡng – vì quyết định cũng cần sáng kiến mà hoạt động
với quyết định nhiều khi không thể tách rời nhau được – song cuốn này
không phải là khảo cứu về y học hay tâm lý mà có tính cách rất thực tiễn
là giúp độc giả rèn nghị lực, nên tôi giữ sự phân loại ấy cho dễ trình
bày.
2. Bệnh về sáng kiến, suy xét
Người nhu thuận / Người bạo loạnBệnh về sáng kiến.
Như tôi đã nói, phải có sáng kiến, tự vạch con đường đi thì mới gọi là
có nghị lực. Người thiếu sáng kiến là người nhu thuận, trái với nhu
thuận là bạo loạn. - Ai cũng biết có những người đàn ông mà nhu mì như
đàn bà. Hồi nhỏ sống với cha mẹ thì đúng như câu tục ngữ “cha mẹ đặt đâu
ngồi đấy”. Cha mẹ muốn cái gì, họ ngoan ngoãn vâng lời, không hề suy
nghĩ thắc mắc về vấn đề này, vấn đề nọ, hình như họ không có cả đến cá
tính nữa. Lớn lên, khi thành gia , họ để mặc vợ lo toan mọi việc, từ
việc ăn mặc đến việc xử thế, nhất thiết vợ chỉ cho cả; vợ bảo bận chiếc
áo này thì họ bận, bảo đeo chiếc cà vạt kia thì họ đeo, đeo xong, giá vợ
có bảo cởi ra thì họ cũng cởi, chẳng hề lấy làm lạ. Có lẽ họ là những
người sướng nhất đời; nhưng họ có thấy rằng họ sướng không, điều ấy còn
ngờ lắm. Không nên lầm hạng người vì quý mến cha mẹ mà vâng lời hoặc vì
tính tình hợp với vợ mà hành động như vợ. Những người này tính tình bình
thường, còn hạng người nhu thuận là những kẻ có bệnh mà nguyên do bệnh
đó là một vài hạch nào trong cơ thể không phát triển điều hoà, cần có y
sĩ chuyên môn trị mới hết. - Trái lại, có những người nhiều sáng kiến
quá đến nỗi phản kháng ý kiến của bất kỳ ai; hồi nhỏ không chịu vâng lời
cha mẹ, nhất định làm theo ý mình. Hạng người đó khó thành công vì
không được ai giúp, chỉ trong những thời loạn may ra làm nên, song cũng
không bền. Nguyên do cũng tại một hạch nào đó phát triển quá độ.
3. Bệnh về quyết định
Người phải bắt buộc mới chịu.
Bệnh về quyết định - Chúng ta cứ tưởng làm người ai mà không muốn được
tự do; nhưng không, có những người không thích tự do: họ muốn có một
quyền lực nào ép buộc họ và nếu để họ tự do thì họ chẳng chịu làm gì cả.
Họ không thiếu sáng kiến, nhưng không chịu quyết định, để người khác
quyết định giùm họ rồi thúc đẩy họ, họ mới miễn cưỡng chịu tiến. Hai thi
hào Baudelaire và Gérard de Nerval tiêu biểu cho hạng đó. Chỉ khi nào
chủ nợ lại la ó, hoặc nhà xuất bản lại doạ nạt, hai nhà đó mới chịu
viết. Họ phàn nàn rằng người ta thúc họ hoài, bắt họ viết vội viết vàng,
nên văn thơ không được như ý, nhưng nếu không giục họ thì chắc chắn họ
chẳng viết được gì cả mà có viết thì có lẽ cũng không hay. Chẳng phải
riêng nhiều nghệ sĩ có tâm trạng đó đâu, nhiều nhà doanh nghiệp cũng chỉ
trổ tài được trong những lúc gấp rút. Hồi đi học cũng vậy, nhiều bạn
trẻ đợi gần tới kỳ thi mới học; bảo họ dự bị sẵn sàng từ đầu năm đi, họ
nhận là phải, song thú thực là học trước như vậy “không vô”, tinh thần
không được kích thích mà thiếu minh mẫn. Những học sinh đó ra trường
rồi, không còn gì bắt buộc học nữa, không phải thi cử nữa, tất liệng
sách vở đi liền. Thần kinh họ có suy nhược không? Ta không biết. Bạn ở
trong trường hợp đó nên kiếm một người thân để thúc đẩy mình, và tự mình
phải tập bó buộc mình
- Lại có những người hay thay đổi quyết định quá, thành ra bất thường.
Họ như con bướm, đậu bông này một chút rồi bay qua bông khác. Nguyên
nhân có thể là do họ quyết định vội vàng quá, không chịu cân nhắc kỹ,
nên phải quyết định lại. Nhưng thường khi là họ không đủ kiên nhẫn theo
đến cùng. Trong trường hợp này, bệnh của họ thuộc về hoạt động hơn là về
quyết định. Khi đau ốm, họ thử đủ thứ thuốc, nhưng thuốc nào họ cũng
chỉ uống một hai thang, hoặc chích vài ba mũi rồi bỏ. Ra làm ăn, họ thử
đủ các nghề, chưa biết kỹ nghề nào đã chán, lựa nghề khác. Người Pháp ví
họ như những viên đá, lăn hoài, rêu bám vào không được. Có khi họ không
biết họ muốn gì, có lẽ vì họ không muốn gì hết, ngoài sự mới mẻ, sự
thay đổi. Nếu vậy thì quả là chí họ chưa định và bệnh của họ có thể sắp
vào loại “bệnh về sáng kiến”.
4. Bệnh về hoạt động
- Người mê lý tưởng
- Người không tưởng
- Người lý sự
- Người bi quan
- Người ưa châm biếm
- Người không thể chú ý được
- Người quá hăng hái
Bệnh về hoạt động Trong xã hội nhan nhản những người có sáng kiến mà thực hành không được vì kém hoạt động.
- Có khi lý trí lấn áp tình cảm, ý tưởng lấn áp lòng muốn mà người ta
thiếu hoạt động. Đó là trường hợp những người mê lý tưởng. Họ chẳng làm
việc gì hết vì thấy chẳng có việc gì đáng làm; hoặc nếu có việc đáng làm
thì họ đợi cho có đủ điều kiện này, điều kiện nọ để làm cho được hoàn
toàn, rồi mới chịu làm. Bạn rủ họ đi chơi Huế, họ đáp: - Huế rất đẹp, có
nhiều di tích, cảnh lại nên thơ, nên đi lắm; nhưng trước khi thăm Huế,
phải coi hết những tích ở Bắc Việt đã, rồi lần theo bước đường Nam tiến
của tổ tiên mà tới Huế. Lại phải thu thập đủ tài liệu về Huế đã chứ! Bạn
thấy họ hiểu biết nhiều về hội hoạ, hỏi họ sao không viết sách phổ
thông môn đó, họ cười:
- Viết thì phải viết cho đàng hoàng, không có chỗ chê. Phải thu thập đủ
các bức danh hoạ cổ kim, đông tây rồi in hình màu trên giấy láng để độc
giả thưởng thức. Một cuốn như vậy bán mấy ngàn đồng, ai mua ? Họ luôn
luôn có luận điệu đó, nên họ có thể rất thông minh mà hoàn toàn bất lực,
vô ích cho xã hội. - Khi lý tưởng của họ không có tính cách thực tế thì
họ hoá ra không tưởng. Chẳng hạn họ nặn óc, lập những chương trình vĩ
đại để diệt tận gốc chiến tranh trong hai mươi bốn giờ hoặc để diệt nạn
mù chữ trên khắp thế giới trong nửa tháng. Họ mơ mộng viễn vông như vậy
và gặp ai cũng đem ra bàn, bắt mọi người phải nghe và phải góp ý, nghĩa
là phải khen vì họ không chịu ai chê họ hết. - Có người lý luận chu đáo
quá đến nỗi không muốn hoạt động nữa. Họ nghèo, vợ con nheo nhóc, bảo họ
làm nghề này nghề nọ để kiếm tiền, thì họ trầm ngâm suy nghĩ, tính toán
từng li từng tí, đoán trước mọi sự trở ngại, mọi sự khó khăn xa hay
gần, có thực hay tưởng tượng. Mở một quán tạp hoá ở đầu đường ư ? Ừ, ý
đó có vẻ được đấy; nhưng để tính xem nào, có thành công được không đã
chứ. Khu này, dân cư nghèo mà đã có ba tiệm tạp hoá rồi, mình mở thêm
nữa, e không có lợi. Họ lý luận có vẻ xác đáng lắm, nhưng hình như chỉ
ráng lý luận để chứng thực rằng chẳng nên làm gì cả. Tôi gọi họ là hạng
lý sự. Thường thường hạng này hay bi quan, chỉ tưởng tượng toàn những
nỗi khó khăn, làm ruộng thì sợ trâu chết, sợ nước lụt, sợ chuột, sợ
còng; buôn bán thì sợ dân nghèo không có tiền mua, sợ giá hàng sẽ lên,
khó bán, sợ người ta ăn cắp ăn nảy… Tệ hại nhất là khi họ đã chẳng làm
gì mà còn châm biếm những người làm được việc. Họ đi đâu cũng kiếm cách
giội những thùng nước lạnh vào lòng hăng hái của kẻ khác. Bạn giúp đỡ
một gia đình nghèo ư? Họ bảo: còn những gia đình này nọ nghèo hơn, sao
không giúp? Sao không giúp hết những kẻ khốn khó ở Bắc, ở Trung, ở châu
Phi, châu Mỹ? Bạn hăng hái viết sách, họ hỏi: “Viết cho ai đọc đấy ?
Tính xem bán được năm trăm cuốn không? Kiếm được bao nhiêu tiền? Công
phu sáu tháng có bằng một cú áp phe của người này người nọ không ? Hay
là tiên sinh muốn lưu danh thiên cổ đấy ?…” - Nhưng có một số người rất
đáng thương. Họ không thể làm được việc gì vì không thể chú ý được lâu.
Xưa nay, có lẽ chưa có người đa tài bằng Coleridge, sinh ở nước Anh cuối
thế kỷ 18. Ông lý luận giỏi hơn các triết gia, tưởng tượng phong phú
như một thi sĩ, và có nhiều sáng kiến kỳ dị. Vấn đề nào ông cũng hiểu
rõ, làm cho hết thảy các người đương thời phải bái phục. Người ta bảo
ông có hàng trăm dự định mà chẳng chịu thực hành một dự định nào cả. Một
lần, ông xuất khẩu thành nhiều bài thơ rất hay, đọc cho một nhà xuất
bản nghe. Người này chịu trả trước cho một số tiền, còn bao nhiêu hễ ông
chép xong những bài thơ đó là trả nốt. Chỉ có việc chép lại mà ông làm
cũng không được, cứ mỗi tuần lại quỵ luỵ, khúm núm năn nỉ nhà xuất bản
thí cho một số tiền để tiêu. Thực nhục nhã. Có phải tại ông nghiện rượu
và thuốc phiện từ hồi trẻ mà mắc chứng bệnh nghị lực đó không ? - Những
hạng người kể trên, vì lẽ này hay lẽ khác mà thiếu hoạt động, còn hạng
người dưới đây mắc tật ngược lại là hăng hái quá trong khi hoạt động. Họ
không hề biết do dự, luôn luôn quyết định rất mau, rồi thực hành liền,
không bao giờ lùi bước. Người ta bảo họ lầm lẫn, họ không chịu, cứ tiến
tới, gần như mù quáng, không thấy trở ngại rành rành trước mắt. Họ độc
tài, không nghe ai và bắt mọi người theo mình. Đôi khi họ thành công rực
rỡ song thường thì thất bại. Họ có nhiều nghị lực quá và đó cũng là một
thứ bệnh. Họ làm nô lệ nghị lực của họ, nhắm mắt đưa đầu đi trước.
Người biết kiên nhẫn, tuỳ cơ ứng biến mới là khôn, còn họ chỉ là hạng
cuồng, xuẩn.
TÓM TẮT
Trừ trường hợp rất hiếm của những người vì mắc một bệnh nào nặng đến nỗi
mất nghị lực trong một thời gian, còn thì ai cũng có nghị lực và những
người tưởng rằng mình thiếu nghị lực, thực ra chỉ là có bệnh về nghị
lực. Những bệnh đó có nhiều loại, hoặc thuộc về óc sáng kiến, suy xét
hoặc về sự quyết định, sự hoạt động. Ta nên xem bệnh nghị lực của ta
thuộc về loại nào mà tìm cách trị bằng y học hay tâm lý.